Chăn nuôi Việt Nam bứt phá ngoạn mục: [Bài 3] Biến lợi thế kỹ thuật thành cơ hội tái cơ cấu

Trong nhiều năm, khi nói về tiến bộ giống, ngành chăn nuôi thường nhấn mạnh đến năng suất, nhưng ở giai đoạn phát triển hiện nay, câu chuyện không còn dừng ở đó.

Theo TS Nguyễn Văn Trọng, nguyên Phó Cục trưởng Cục Chăn nuôi, Phó Chủ tịch Hiệp hội Trang trại và Doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam, vấn đề cốt lõi bây giờ không phải có giống tốt hay không, mà là tổ chức hệ thống giống như thế nào để tạo ra hiệu quả thực sự cho toàn ngành.

Bài toán về giống vật nuôi vì thế đang dịch chuyển từ kỹ thuật sang cấu trúc, từ con giống sang hệ thống sản xuất giống.

TS Nguyễn Văn Trọng, nguyên Phó Cục trưởng Cục Chăn nuôi, Phó Chủ tịch Hiệp hội Trang trại và Doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam. Ảnh: Bảo Thắng.

TS Nguyễn Văn Trọng, nguyên Phó Cục trưởng Cục Chăn nuôi, Phó Chủ tịch Hiệp hội Trang trại và Doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam. Ảnh: Bảo Thắng.

Việt Nam không thiếu giống tốt

“Việt Nam không thiếu giống tốt”, ông Nguyễn Văn Trọng nói và cho biết trong nhiều thập kỷ, ngành chăn nuôi đã đạt những bước tiến đáng kể về di truyền. Nhiều giống vật nuôi tăng năng suất từ 20 – 30%, giảm tiêu tốn thức ăn khoảng 25%. Một số giống gia cầm đạt năng suất thuộc nhóm cao của thế giới.

Đặc biệt, các giống cao sản toàn cầu hầu như đều đã có mặt tại Việt Nam. Doanh nghiệp trong nước cũng tiếp cận nhanh tiến bộ khoa học, đồng thời chọn tạo được một số giống mới, bảo tồn được nguồn gen bản địa.

Nhưng theo ông Trọng, vấn đề hiện nay không nằm ở việc thiếu giống tốt mà nằm ở cách tổ chức sản xuất giống. Một thực tế tồn tại như căn bệnh trầm kha là tình trạng phân tán. Việc nhà nhà sản xuất giống, người người sản xuất giống dẫn đến thiếu liên kết, thiếu kiểm soát chất lượng và không phát huy được ưu thế lai.

Điểm nghẽn này mâu thuẫn với quy trình sản xuất giống hiện đại vốn thường được tổ chức theo mô hình tháp. Tầng trên là đàn giống hạt nhân được kiểm soát chặt chẽ về di truyền. Tầng giữa là giống ông bà, bố mẹ. Tầng dưới cùng là con thương phẩm. Chỉ khi vận hành theo cấu trúc này, ưu thế di truyền mới duy trì ổn định và lan tỏa ra sản xuất đại trà. Nếu không, giống tốt vẫn có thể bị “bào mòn” qua từng thế hệ. Đây là khác biệt căn bản giữa chăn nuôi công nghiệp và chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán.

Nhân bản thành công lợn ỉ từ tế bào soma mô tai. Ảnh: Văn Giang.

Nhân bản thành công lợn ỉ từ tế bào soma mô tai. Ảnh: Văn Giang.

Việt Nam đã có những bước hoàn thiện thể chế quan trọng để phát triển công nghệ giống. Luật Chăn nuôi 2018 cùng các nghị định, thông tư và chiến lược phát triển đến 2030, tầm nhìn 2045 đã tạo khung pháp lý cho phát triển giống. Giống được xác định là một trong những trụ cột quan trọng.

Tuy nhiên, thể chế chỉ là điều kiện cần. Vấn đề còn lại là tổ chức thực thi. Theo ông Trọng, ngành chăn nuôi trong nước khó chuyển hoàn toàn sang quy mô trang trại khi vẫn còn hàng triệu hộ chăn nuôi nhỏ lẻ. Do đó, bài toán đặt ra không phải là thay thế, mà là tổ chức lại sản xuất theo hướng bền vững hơn. Ở đấy, chăn nuôi trang trại sẽ đóng vai trò dẫn dắt. Nhưng chăn nuôi nông hộ phải được chuyên nghiệp hóa, đảm bảo an toàn sinh học, tham gia vào chuỗi giá trị và tiếp cận giống chất lượng.

Điều này đặt ra yêu cầu kép cho hệ thống sản xuất giống khi vừa phải đảm bảo phục vụ sản xuất công nghiệp quy mô lớn, vừa đáp ứng nhu cầu tại chỗ của nông hộ. Nói cách khác, giống không chỉ là câu chuyện kỹ thuật, mà là vấn đề tổ chức ngành.

Giống trong thời kỳ cạnh tranh

TS Nguyễn Văn Trọng nhấn mạnh, nếu như trước đây, mục tiêu của chọn giống là tăng năng suất thì hiện nay mục tiêu đã thay đổi khi áp lực cạnh tranh ngày càng lớn. Việt Nam không chỉ “đua” trên thị trường xuất khẩu mà còn ngay trong thị trường nội địa, nơi nhu cầu rất lớn với 100 triệu dân và hàng trăm triệu lượt khách du lịch mỗi năm.

Trong bối cảnh đó, giống phải phục vụ mục tiêu rõ ràng là giảm giá thành. Hiện nay, chi phí thức ăn chiếm tới 65 – 70% giá thành sản phẩm chăn nuôi, trong khi phần lớn nguyên liệu phải nhập khẩu. Nếu giống không giúp tăng hiệu quả sử dụng thức ăn, không giúp rút ngắn thời gian nuôi thì sẽ khó cạnh tranh.

“Thua trên sân nhà là rủi ro hiện hữu”, ông Trọng đánh giá và thừa nhận đây là lúc cần sự chuyển dịch trong tư duy. Giống không chỉ được đánh giá bằng năng suất mà bằng hiệu quả kinh tế tổng thể. Cùng với đó là yêu cầu về chất lượng và phân khúc thị trường.

Theo ông Trọng, Việt Nam đang phát triển giống vật nuôi theo 3 phân khúc rõ rệt: Nhóm giống năng suất cao, chủ yếu nhập khẩu, phục vụ sản xuất công nghiệp; nhóm giống lai, cân bằng giữa năng suất và chất lượng và cuối cùng là nhóm giống bản địa phục vụ phân khúc đặc sản, giá trị cao. Cách tiếp cận này phản ánh một thực tế là không có một loại giống nào phù hợp cho mọi mục tiêu. Việc xác định đúng phân khúc giúp tránh tình trạng “lệch pha” giữa sản xuất và thị trường.

Nhờ giống liên tục được cải tạo, Việt Nam có đàn bò sữa chất lượng, thay thế dần nguồn nhập khẩu. Ảnh: TH.

Nhờ giống liên tục được cải tạo, Việt Nam có đàn bò sữa chất lượng, thay thế dần nguồn nhập khẩu. Ảnh: TH.

Một xu hướng khác đang nổi lên là ứng dụng công nghệ sinh học trong chọn giống. Trước đây, chọn giống chủ yếu dựa trên phương pháp truyền thống. Hiện nay, công nghệ gen, dữ liệu di truyền, chọn lọc theo bộ gen đang dần trở thành công cụ chính. Giải trình tự gen cho phép xác định chính xác những đặc tính mong muốn như tăng trưởng nhanh, tiêu tốn thức ăn thấp, khả năng chống chịu tốt.

Trong tương lai, công nghệ chỉnh sửa gen có thể tạo ra những giống vật nuôi thích ứng tốt hơn với biến đổi khí hậu và dịch bệnh. Đây chắc chắn sẽ là bước nhảy vọt về chất của khoa học chăn nuôi.

Tuy nhiên, thách thức không nằm ở việc có công nghệ mà là đưa công nghệ vào thực tiễn nhanh đến đâu. Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo gần đây được xem như “kim chỉ nam”, nhưng hiệu quả cuối cùng vẫn phụ thuộc vào khả năng thương mại hóa và tổ chức sản xuất. Bên cạnh đó, mục tiêu tự chủ giống cũng được đặt ra rõ ràng: khoảng 80% với lợn và gia cầm, 70% với bò, 100% với thủy cầm.

Nhìn lại toàn bộ hành trình phát triển giống vật nuôi tại Việt Nam, có thể thấy tiến bộ giống đã đạt nhiều thành tựu đáng kể. Giống tốt đã có, công nghệ đã có, thị trường cũng đang mở rộng. Vấn đề còn lại là tổ chức hệ thống giống theo mô hình hiện đại, tổ chức liên kết giữa các cơ sở sản xuất giống, tổ chức phân khúc thị trường rõ ràng và tổ chức lại mối quan hệ giữa chăn nuôi trang trại và nông hộ.

Nếu làm được điều đó, tiến bộ giống sẽ không chỉ dừng ở phòng thí nghiệm hay một vài doanh nghiệp lớn mà lan tỏa ra toàn ngành. Khi đó, giống không chỉ là yếu tố kỹ thuật mà trở thành năng lực cạnh tranh thực sự của ngành chăn nuôi Việt Nam.

Tự chủ không chỉ để đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn hướng tới xuất khẩu. Nhưng để làm được, ngoài giống còn cần 2 điều kiện then chốt là giá thành và an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc. Điều này quay trở lại điểm xuất phát là giống phải được đặt trong một hệ thống sản xuất hiệu quả, có kiểm soát và minh bạch.

Từ ngày 27 – 28/3, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức Hội nghị khoa học, công nghệ chăn nuôi và thú y toàn quốc lần thứ nhất với sự tham dự của lãnh đạo các cơ quan của Quốc hội, Văn phòng Chính phủ, các bộ, ngành liên quan; các cơ quan quản lý, các liên hiệp hội, hội, doanh nghiệp, các nhà khoa học ngành chăn nuôi và thú y trên phạm vi toàn quốc. Hội nghị diễn ra tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia, đường Phạm Hùng, phường Từ Liêm, TP Hà Nội.

Báo Nông nghiệp và Môi trường sẽ tường thuật trực tiếp sự kiện quan trọng này.

Nguồn: nongnghiepmoitruong.vn

[searchandfilter id="2529"]