Thông tư số 24/2026/TT-BNNMT góp phần hoàn thiện và đưa chính sách EPR đi vào cuộc sống, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý và minh bạch nguồn đóng góp tài chính.
Hoàn thiện khung pháp lý về EPR
Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa ban hành Thông tư số 24/2026/TT-BNNMT quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 110/2026/NĐ-CP về trách nhiệm tái chế sản phẩm, bao bì và trách nhiệm xử lý chất thải của nhà sản xuất, nhập khẩu (EPR).
Việc ban hành thông tư được xem là cần thiết nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về EPR sau khi Nghị định số 110/2026/NĐ-CP có hiệu lực. Theo đó, các quy định liên quan tại Nghị định số 08/2022/NĐ-CP, Nghị định số 05/2025/NĐ-CP cùng các văn bản hướng dẫn như Thông tư số 02/2022/TT-BTNMT và Thông tư số 07/2025/TT-BTNMT sẽ hết hiệu lực, đặt ra yêu cầu phải có một văn bản thống nhất để bảo đảm tính liên tục trong triển khai chính sách.

Thông tư số 24/2026/TT-BNNMT tích hợp hệ thống biểu mẫu theo hướng tinh gọn, nhằm đơn giản hóa thủ tục về tái chế và xử lý chất thải. Ảnh: Phúc Hưng.
Thực tiễn áp dụng EPR thời gian qua cũng cho thấy một số bất cập, đặc biệt ở hệ thống biểu mẫu kê khai và báo cáo còn phức tạp, gây khó khăn cho doanh nghiệp. Đồng thời, các quy định mới tại Nghị định số 110/2026/NĐ-CP như cơ chế hỗ trợ tái chế và xử lý chất thải cần được cụ thể hóa về hồ sơ, quy trình và biểu mẫu để bảo đảm khả năng thực thi.
Trên cơ sở đó, Thông tư số 24/2026/TT-BNNMT vừa kế thừa các quy định hiện hành, vừa điều chỉnh kỹ thuật và tích hợp hệ thống biểu mẫu theo hướng tinh gọn, nhằm đơn giản hóa thủ tục hành chính, giảm trùng lặp và nâng cao tính khả thi trong thực hiện.
Đối với trách nhiệm tái chế sản phẩm, bao bì, thông tư quy định rõ mức đóng góp tài chính trên một đơn vị khối lượng (Fs) tại Phụ lục I. Công thức tính được kế thừa từ quy định trước đây nhưng loại bỏ chi phí quản lý 2% nhằm phù hợp với quy định mới tại Nghị định số 110/2026/NĐ-CP.
Hệ thống biểu mẫu cũng được thiết kế lại theo hướng tích hợp, gộp nhiều loại đăng ký, kê khai và báo cáo thành biểu mẫu tổng hợp. Cách làm này giúp doanh nghiệp giảm số lượng hồ sơ phải nộp và tăng tính đồng bộ dữ liệu.
Tương tự, đối với trách nhiệm thu gom và xử lý chất thải, các biểu mẫu được tích hợp theo nhóm sản phẩm, bao bì thay vì tách rời như trước đây, qua đó đơn giản hóa quy trình thực hiện nghĩa vụ của doanh nghiệp.
Minh bạch hóa dòng tiền EPR
Một trong những điểm đáng chú ý của Thông tư số 24 là quy định chi tiết cơ chế hỗ trợ hoạt động tái chế và xử lý chất thải. Cơ chế này được cụ thể hóa từ các quy định tại Nghị định số 110/2026/NĐ-CP, bao gồm quy trình tiếp nhận, quản lý và xét duyệt hồ sơ đề nghị hỗ trợ, cùng bộ biểu mẫu thống nhất về hợp đồng hỗ trợ, báo cáo tiến độ theo quý, báo cáo kết quả thực hiện và báo cáo sử dụng kinh phí.

Hoàn thiện khung chính sách EPR góp phần thúc đẩy phát triển nền tái chế hiện đại, bền vững. Ảnh: Phúc Hưng.
Theo đó, hồ sơ đề nghị hỗ trợ hoạt động tái chế sản phẩm, bao bì được gửi trực tiếp hoặc qua đường bưu chính đến Bộ phận Một cửa của Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Hồ sơ phải được đựng trong phong bì kín, dán giấy niêm phong đè lên các mép dán để bảo đảm tính nguyên vẹn. Bên ngoài ghi rõ tên tổ chức đề nghị, tên hồ sơ và dòng chữ: “Hồ sơ đề nghị hỗ trợ hoạt động tái chế sản phẩm, bao bì, không được bóc mở trước thời điểm mở hồ sơ”. Giấy niêm phong là giấy có độ bền cơ học cao, trên đó phải có chữ ký, họ tên, chức danh của người đại diện theo pháp luật và đóng dấu của tổ chức.
Sau khi Hệ thống thông tin EPR quốc gia được tích hợp chức năng tiếp nhận hồ sơ đề nghị hỗ trợ hoạt động tái chế sản phẩm, bao bì, đơn vị đề nghị hỗ trợ được lựa chọn nộp hồ sơ theo hình thức trực tuyến trên Hệ thống này.
Về quản lý tài chính, Thông tư số 24 quy định rõ cơ chế sử dụng lãi tiền gửi phát sinh từ nguồn đóng góp EPR. Theo đó, Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam được phép trích một phần lãi tiền gửi để phục vụ chi phí quản lý, nhưng mức trích không vượt quá 2% tổng số tiền giải ngân hỗ trợ tái chế trong năm và không quá 0,5% đối với hoạt động xử lý chất thải.
Phần lãi còn lại phải được phân bổ trở lại cho các hoạt động môi trường trong năm tiếp theo theo công thức quy định, dựa trên tỷ lệ số dư kinh phí của từng nhóm sản phẩm, bao bì và loại hình xử lý chất thải, nhằm bảo đảm nguyên tắc khách quan, công khai và minh bạch.
Đối với các quỹ bảo vệ môi trường cấp tỉnh hoặc tổ chức tài chính tương đương, mức chi phí quản lý từ lãi tiền gửi cũng được giới hạn tối đa 1,5% số tiền giải ngân hỗ trợ xử lý chất thải trong năm.
Theo đánh giá của các chuyên gia, cách tiếp cận mới này góp phần tăng cường niềm tin của doanh nghiệp vào tính minh bạch trong quản lý nguồn tài chính EPR. Thay vì chỉ dừng ở việc thu và phân bổ nghĩa vụ tài chính, cơ quan quản lý đã kiểm soát toàn bộ vòng đời dòng tiền, từ tiếp nhận, gửi ngân hàng, phát sinh lãi đến phân bổ và giải ngân, bảo đảm nguồn lực được quay trở lại phục vụ trực tiếp cho hoạt động tái chế và xử lý chất thải.
Thông tư cũng phân công rõ trách nhiệm cho Cục Môi trường trong việc quản lý, vận hành Hệ thống thông tin EPR quốc gia; đồng thời giao Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam quản lý nguồn đóng góp, lựa chọn ngân hàng gửi tiền và thực hiện phân bổ kinh phí theo đúng quy định.
| Quỹ bảo vệ môi trường cấp tỉnh hoặc tổ chức tài chính tương đương có trách nhiệm: Lựa chọn ngân hàng thương mại và xác định kỳ hạn tiền gửi để gửi tiền đóng góp hỗ trợ hoạt động xử lý chất thải khi chưa giải ngân, bảo đảm bảo toàn vốn gốc, hiệu quả tiền gửi và kịp thời giải ngân cho hoạt động được hỗ trợ; sau khi kết thúc thời gian thực hiện hỗ trợ, quỹ bảo vệ môi trường cấp tỉnh hoặc tổ chức tài chính tương đương có trách nhiệm chuyển phần lãi tiền gửi ngân hàng còn lại sau khi đã trích chi phí quản lý về Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam để bổ sung vào nguồn kinh phí hỗ trợ hoạt động xử lý chất thải theo quy định. |
