Báo cáo Triển vọng Đông Nam Á 2026 – 2035 của Bain & Company, DBS và Vriens & Partners dự báo Việt Nam tiếp tục là nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất trong nhóm 6 nước Đông Nam Á (SEA-6), với tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 6,2% mỗi năm trong giai đoạn 2026-2035.
Việt Nam nổi lên trong làn sóng dịch chuyển chuỗi cung ứng
Theo báo cáo công bố ngày 7/10, Việt Nam đang giữ vị trí dẫn đầu về tăng trưởng trong khu vực Đông Nam Á. Trong giai đoạn 2024-2025, GDP Việt Nam tăng trưởng trung bình 7,5%, cao hơn đáng kể mức trung bình 5,1% của nhóm SEA-6 và bỏ xa Thái Lan với 2,7%. Tính trong cả ba thập niên từ 1996 đến 2025, Việt Nam cũng liên tục nằm trong nhóm dẫn đầu khu vực về tốc độ tăng trưởng.
Quy mô nền kinh tế Việt Nam đạt khoảng 271 tỷ USD theo giá trị GDP thực năm 2025. Tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 7,2% trong giai đoạn 1996-2005, 6,3% trong giai đoạn 2006-2015 và tiếp tục đạt 6,3% trong giai đoạn 2016–2025. Trong hai năm 2024-2025, mức tăng trưởng bình quân 7,5%.

Một trong những điểm đáng chú ý nhất trong đánh giá của nhóm nghiên cứu là sự khác biệt giữa Việt Nam và phần lớn các nền kinh tế Đông Nam Á về vai trò của sản xuất trong nền kinh tế.
Báo cáo cho biết tỷ trọng giá trị gia tăng ngành sản xuất trong GDP đã giảm tại hầu hết các nền kinh tế Đông Nam Á kể từ đỉnh vào giữa những năm 2000. Việt Nam là ngoại lệ đáng chú ý khi hoạt động sản xuất tiếp tục tăng lên, được hỗ trợ bởi dòng vốn đầu tư theo chiến lược “China Plus One”, đặc biệt trong lĩnh vực điện tử và máy móc.
Đây cũng là một trong những nền tảng quan trọng giúp Việt Nam hưởng lợi từ quá trình tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu. Theo báo cáo, dòng FDI vào Đông Nam Á đã tăng mạnh trong những năm gần đây, trong đó Singapore, Indonesia và Việt Nam là những thị trường hưởng lợi đáng kể. Đối với Việt Nam, dòng vốn gắn với sản xuất hướng tới xuất khẩu tiếp tục đóng vai trò quan trọng.
Cơ cấu nguồn vốn đầu tư cũng đang thay đổi khi các doanh nghiệp quốc tế tìm cách đa dạng hóa chuỗi cung ứng. Báo cáo nhận định Singapore ngày càng trở thành trung tâm vốn của ASEAN và hiện là nguồn FDI lớn nhất vào Indonesia, Malaysia, Thái Lan và Việt Nam. Trong khi đó, dòng vốn từ Mỹ vào khu vực đã tăng đáng kể, còn vốn Trung Quốc cũng gia tăng tại một số thị trường, phản ánh xu hướng dịch chuyển sản xuất và đa dạng hóa chuỗi cung ứng. Tại Việt Nam, dòng vốn Trung Quốc được ghi nhận gắn với nền tảng sản xuất hướng tới xuất khẩu.
Đáng chú ý, Việt Nam không chỉ hưởng lợi từ một nguồn vốn duy nhất. Báo cáo cho rằng Việt Nam có khả năng thu hút FDI từ cả các chuỗi cung ứng liên kết với Mỹ và Trung Quốc. Đây là điểm khác biệt giúp Việt Nam có mức trần tăng trưởng cao hơn trong các kịch bản thuận lợi.
Theo dự báo cơ sở, Việt Nam sẽ đạt mức tăng trưởng GDP bình quân 6,2% mỗi năm trong giai đoạn 2026-2035. Mức này cao hơn Indonesia 5,4%, Philippines 5,8%, Malaysia 4,3%, Singapore 2,7% và Thái Lan 2,2%. Báo cáo đồng thời cho rằng Việt Nam sẽ tiếp tục duy trì vị trí dẫn đầu khu vực nhờ FDI và những cải thiện về năng suất.
Điểm nghẽn hạ tầng quyết định dư địa tăng trưởng
Theo báo cáo, lợi thế về sản xuất và FDI giúp Việt Nam có nền tảng tăng trưởng tương đối vững, nhưng cũng khiến nền kinh tế nhạy cảm hơn với những biến động bên ngoài.
Báo cáo lưu ý rằng những bước tăng xuất khẩu gần đây tại Đông Nam Á vẫn tập trung vào một số ngành, đặc biệt là điện tử và hạ tầng phục vụ trí tuệ nhân tạo. Đối với Việt Nam, dòng nguyên liệu đầu vào nhập khẩu gắn chặt với quá trình mở rộng sản xuất điện tử. Điều này cho thấy sự phát triển của xuất khẩu chưa đồng nghĩa với việc năng suất của toàn bộ nền kinh tế đã được cải thiện tương ứng.

Theo đánh giá của báo cáo, Việt Nam là quốc gia có “dư địa tăng trưởng” lớn nhất trong nhóm SEA-6. Sau nhiều thập niên cải cách, Việt Nam đã có vị trí trong chuỗi cung ứng điện tử và bán dẫn toàn cầu. Mạng lưới quan hệ thương mại rộng cũng có thể giúp nền kinh tế giảm bớt tác động nếu hoạt động xuất khẩu gặp khó khăn.
Đặc biệt, Việt Nam có khả năng thu hút đầu tư từ cả các chuỗi cung ứng gắn với Mỹ và Trung Quốc. Trong điều kiện thuận lợi, dòng vốn này có thể tiếp tục mở rộng sang logistics, khu công nghiệp và các công đoạn đầu vào của ngành điện tử, qua đó tạo hiệu ứng cộng hưởng đối với tăng trưởng.
Tuy nhiên, báo cáo chỉ ra hai điểm nghẽn đáng chú ý là hệ thống điện và thị trường vốn trong nước. Những hạn chế về lưới điện có thể ảnh hưởng đến khả năng mở rộng sản xuất có giá trị cao, trong khi thị trường vốn còn tương đối nông khiến khả năng huy động nguồn lực trong nước cho đầu tư dài hạn bị hạn chế.
Nhóm nghiên cứu đánh giá đây không phải những hạn chế mang tính cấu trúc cố hữu mà là các vấn đề về hạ tầng và phát triển tài chính mà Việt Nam có khả năng xử lý trong thập niên tới.
Trong các ưu tiên cho Việt Nam, báo cáo nhấn mạnh vấn đề thực thi. Hạn chế của lưới điện và các điểm nghẽn hạ tầng có nguy cơ giới hạn giai đoạn tăng trưởng tiếp theo. Do đó, ưu tiên trước mắt là cải thiện độ tin cậy của hệ thống năng lượng để đáp ứng nhu cầu của các ngành sản xuất có giá trị cao, đồng thời thực hiện nâng cấp chuỗi giá trị dựa trên AI trước khi lợi thế về lắp ráp chi phí thấp suy giảm.
Ở cấp độ khu vực, Bain, DBS và Vriens & Partners xác định ba ưu tiên ngày càng quan trọng đối với tăng trưởng gồm củng cố năng lực thể chế, tăng cường hệ thống năng lượng và khai thác lợi ích từ AI. Với Việt Nam, yêu cầu về năng lượng đặc biệt quan trọng bởi khả năng cung cấp điện ổn định sẽ quyết định khả năng mở rộng sản xuất công nghiệp và phát triển những hạ tầng tiêu thụ điện lớn.
Báo cáo cũng cho rằng AI có thể trở thành động lực năng suất chủ yếu trong thập niên tới. Tuy nhiên, lợi ích từ AI không tự động xuất hiện chỉ nhờ việc ứng dụng công nghệ. Các nền kinh tế cần phát triển nhân lực, hạ tầng dữ liệu và khả năng triển khai AI ở quy mô doanh nghiệp, thay vì dừng ở các dự án thử nghiệm.
Với Việt Nam, đây sẽ là bước chuyển từ lợi thế sản xuất chi phí cạnh tranh sang lợi thế về năng suất và giá trị gia tăng. Báo cáo đánh giá trần tăng trưởng của Việt Nam cao hơn các nước còn lại trong khu vực, nhưng để hiện thực hóa dư địa này, năng lực thực thi chính sách, hạ tầng điện, logistics, thị trường vốn và khả năng nâng cấp chuỗi cung ứng sẽ đóng vai trò quyết định.
Theo báo cáo, các điều kiện bên ngoài có thể tạo ra giới hạn trên hoặc giới hạn dưới đối với tăng trưởng, nhưng chính các lựa chọn chính sách trong nước mới quyết định mỗi quốc gia có thể chuyển cơ hội thành tăng trưởng bền vững đến đâu. Với Việt Nam, giai đoạn 2-3 năm tới vì vậy có ý nghĩa quan trọng đối với khả năng hiện thực hóa dự báo tăng trưởng 6,2% trong cả thập niên 2026-2035.
Gia Phúc
Nguồn: vietnamfinance.vn
