Bản tin diễn biến thị trường sữa tháng 1 năm 2025

Năm 2025, Hiệp hội Sữa Việt Nam phối hợp với Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại – Bộ Công Thương chia sẽ những thông tin liên quan đến diễn biến thị trường sữa trong nước và thế giới.  Dưới đây,  Hiệp hội Sữa Việt Nam xin trân trọng giới thiệu những thông tin cơ bản về diễn biến thị trường sữa tháng 1 năm 2025:

1. Tình hình sản xuất và xuất nhập khẩu sữa tại Việt Nam

1.1. Theo Tổng cục Thống kê, trong tháng đầu năm 2025, sản lượng sữa tươi của cả nước ước đạt 142 triệu lít, tăng 7,3% so với cùng kỳ năm 2024. Sản lượng sữa bột tháng 1/2025 ước tính đạt 12,1 nghìn tấn, tăng 5,7% so với cùng kỳ năm 2024. 

1.2. Về kim ngạch nhập khẩu

– Theo số liệu của Tổng cục Hải quan, trong 15 ngày đầu tháng 1/2025, kim ngạch nhập khẩu sữa và sản phẩm sữa đạt 63,1 triệu USD, tăng 37,4% so với cùng kỳ tháng 12/2024. Trước đó, trong tháng 12/2024, kim ngạch nhập khẩu sữa và sản phẩm sữa đạt mức 99,2 triệu USD, giảm 2,8% với tháng 11/2024. Tính chung cả năm 2024, kim ngạch nhập khẩu mặt hàng này đạt 1,12 tỷ USD, giảm 2,9% so với cùng kỳ năm 2023.

– Về thị trường, trong năm 2024, kim ngạch nhập khẩu sữa từ thị trường lớn nhất là New Zeland giảm 26% so với cùng kỳ năm 2023 đạt mức 290,3 triệu USD. Thị trường Mỹ đứng vị trí thứ hai đạt 124,4 triệu USD, giảm 7,9%.
Các thị trường sụt giảm kim ngạch như Pháp giảm 23,9%; Bỉ giảm 65,8%; Đan Mạch giảm 3,2%; Nhật Bản giảm 0,7%. Ngược lại, kim ngạch nhập khẩu từ một số thị trường lại tăng trưởng như Australia tăng 76,2%; Ailen tăng 20,9%; Malaysia tăng 4,8%; Hà Lan tăng 46,2%; Thụy Sỹ tăng 40,8%; Hàn Quốc tăng 9%; Đức tăng 18,2%; Singapore tăng 15,9%; Tây Ban Nha tăng 2,6%.

– Cơ cấu chủng loại nhập khẩu:  Trong năm 2024, kim ngạch nhập khẩu một số mặt hàng sữa và sản phẩm từ sữa chính tăng giảm không đồng nhất so với cùng kỳ năm 2023. Cụ thể, kim ngạch nhập khẩu là mặt hàng sữa bột chiếm vị trí đứng đầu, đạt mức 340,2 triệu USD, tăng 14,8% so với cùng kỳ năm 2023. Kim ngạch nhập khẩu lớn nhất là từ thị trường Singapore và Nhật Bản, chiếm 28% thị phần. Sữa bột gầy là mặt hàng đạt kim ngạch nhập khẩu cao thứ hai, đạt 252,7 triệu USD, giảm 23,7% so với cùng kỳ năm 2023. Trong đó, Việt Nam nhập khẩu sữa bột từ thị trường Mỹ đạt kim ngạch lớn nhất, chiếm 30,3% thị phần. Kim ngạch nhập khẩu mặt hàng sữa bột nguyên kem đứng vị trí thứ ba đạt 93,1 triệu USD, giảm 32,8%. Kim ngạch nhập khẩu một số sản phẩm sữa đạt mức tăng trưởng như sữa đặc có đường tăng 16,7%; sữa tươi tiệt trùng tăng 22,6%; kem sữa tăng 27,7%; bơ tăng 14,5%; bột thực phẩm tăng 26,8%. Ngược lại, kim ngạch nhập khẩu một số mặt hàng khác sụt giảm như sữa chua uống giảm 9,4%; chất béo khan của bơ giảm 46,4%; sữa chua giảm 21,9%.

1.3. Kim ngạch xuất khẩu:

– Theo số liệu của Tổng cục Hải quan, trong tháng 12/2024, kim ngạch xuất khẩu sữa và sản phẩm từ sữa đạt 25,4 triệu USD, tăng 9,2% so với tháng 11 trước đó. Tháng 1 năm 2025, giá trị xuất khẩu sữa và sản phẩm sữa đạt 9 triệu USD, giảm 24,2% so với cùng kỳ năm 2024 (nguồn: channuoivietnam.com).

Tính chung cả năm 2024, kim ngạch xuất khẩu sữa và sản phẩm sữa tăng 11,5% so với cùng kỳ năm 2023 đạt 324,09 triệu USD.

– Về thị trường xuất khẩu: Ttrong năm 2024, kim ngạch xuất khẩu sang thị trường lớn nhất là Irăc đạt 148,2 triệu USD, giảm nhẹ 1,7% và chiếm 46% thị phần xuất khẩu. Afganistan là thị trường đứng vị trí thứ hai đạt 36,1 triệu USD, tăng 59,1%. Ngoài ra, kim ngạch xuất khẩu sữa sang một số thị trường đạt mức tăng trưởng mạnh như Nhật Bản tăng 48,6%; Mỹ tăng 83%; Philipine tăng 41,2%. Kim ngạch xuất khẩu sữa sang thị trường Trung Quốc cũng tăng 20,7% đạt 16,4 triệu USD.

 2. Diễn biến giá

2.1. Diễn biến giá sữa thế giới

– Chỉ số giá sữa trên sàn thương mại sữa toàn cầu

Trên sàn thương mại sữa toàn cầu (GDT), chỉ số giá sữa trung bình trong 2 phiên giao dịch tháng 1/2025 đạt 4.087 USD/tấn, giảm 1,9% so với tháng 12/2024. So với cùng kỳ năm 2023, chỉ số giá sữa tăng 17%.

– Chỉ số giá sữa của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO)
Chỉ số giá sữa của FAO đạt trung bình 142,9 điểm trong tháng 1/2025, tăng 3,3 điểm (tương đương 2,4%) so với tháng 12/2024 và cao hơn 24,3 điểm (tương đương 20,4%) so với cùng kỳ năm 2023.

– Diễn biến giá sữa tại một số thị trường xuất khẩu chính

Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA), tháng đầu năm 2025, giá các sản phẩm sữa có xu hướng giảm do nhu cầu toàn cầu yếu và tồn kho tăng. Giá một số loại nguyên liệu sữa cụ thể như sau:

+ Tại thị trường Tây Âu: So với mức giá cùng kỳ tháng 12/2024, giá sữa bột nguyên kem 26% giảm 7,7% xuống mức 4.200– 4.650 USD/tấn; giá sữa bột gầy cũng giảm 5,6% xuống mức 2.500- 2.875 USD/tấn. Giá bơ (82% chất béo) giảm 7,8% xuống mức 7.600- 7.950 USD/tấn.

+ Tại châu Úc: So với cùng kỳ tháng 12/2024, giá sữa bột nguyên kem 26% giảm 0,6% xuống mức 3.925- 3.975 USD/tấn (FOB), giá sữa bột gầy (1,25% bơ) giảm 1,7% xuống mức 2.800- 2.850 USD/tấn (FOB). Giá bơ (82% chất béo) tăng 3,3% lên mức 6.875-6.975 USD/tấn.

+ Tại Nam Mỹ: Giá sữa bột nguyên kem 26% giảm 1,1% xuống mức 4.000- 4.200 USD/tấn; giá sữa bột gầy ổn định ở mức 3.000-3.200 USD/tấn. So với mức giá cùng kỳ năm 2024, giá các mặt hàng sữa đều tăng. Trong đó,
giá sữa bột nguyên kem tăng lần lượt 10%; 18,6% và 13,5% tại Tây Âu, châu Úc, Nam Mỹ. Tương tự, giá sữa bột gầy cũng tăng 5,5% và 1,6% tại châu Úc, Nam Mỹ. Giá bơ tăng mạnh 29,7% và 16,7% tại Tây Âu và châu Úc.

2.2. Diễn biến giá sữa tại Việt Nam

Trong tháng 1/2025, giá sữa bán lẻ trong nước ổn định.

3. Dự báo

3.1. Dự báo thị trường sữa thế giới năm 2025 sẽ phụ thuộc một phần vào các yếu tố khó dự đoán, chẳng hạn như tác động của điều kiện thời tiết La Nina tiềm ẩn ở Nam Thái Bình Dương và các cân nhắc về địa chính trị, áp dụng thuế quan thương mại của Hoa Kỳ. Tuy nhiên, triển vọng ngắn hạn là tích cực, vì giá hàng hóa sữa đã tăng lên mức cao hơn trong những tháng gần đây. Về phía cầu, dự kiến nhập khẩu sữa của Trung Quốc sẽ tiếp tục suy yếu, mặc dù mức tồn kho đang giảm. Nhìn chung, triển vọng tăng trưởng kinh tế, vốn khá tích cực, có thể bị ảnh hưởng bởi các quyết định do chính quyền Hoa Kỳ sắp tới đưa ra. Về phía cung, sản lượng sữa của các nhà xuất khẩu sữa chính dự kiến sẽ tăng khoảng 0,3% vào năm 2025. Bất chấp thời tiết xấu và dịch bệnh bùng phát ở động vật, biên lợi nhuận được cải thiện có nghĩa là sản lượng sữa của EU đã tăng vào năm 2024. Đối với năm 2025, giả sử các điều kiện sản xuất thuận lợi hơn, sản lượng sữa của EU có thể tăng thêm khoảng 0,2% (0,3 tấn). Trong khi áp lực về môi trường tiếp tục đè nặng lên ngành sữa của EU, sẽ có rất ít mối lo ngại như vậy ở Hoa Kỳ. Đối với thị trường sữa của Hoa Kỳ, các dự báo mới nhất cho thấy sản lượng sữa của Hoa Kỳ sẽ tăng thêm 0,7% (0,7 tấn) vào năm 2025. Sự gia tăng này sẽ phản ánh sự kết hợp giữa sản lượng sữa tăng và số lượng bò ổn định.

Mùa sản xuất sữa 2024/25 tại New Zealand đã có khởi đầu tương đối tốt. Biên lợi nhuận từ sữa sẽ được cải thiện trong mùa sản xuất hiện tại. Tuy nhiên, dự kiến số lượng bò sữa sẽ giảm nhẹ vào năm 2025, với khả năng xảy ra hiện tượng thời tiết La Nina. Do đó, có khả năng sản lượng sữa của New Zealand có thể giảm gần 1% (0,2 tấn) vào năm 2025.

3.2. Dự báo thị trường sữa Việt Nam.

Trong năm 2025, dự báo giá bán sữa có thể sẽ ổn định hơn năm 2024 với tỷ lệ tăng trưởng sản lượng tiêu thụ có thể sẽ đạt 1,8%. Tiếp tục xu hướng tăng trưởng của các năm trước, dân số Việt Nam được dự báo sẽ tăng trong thời gian tới, là một trong những động lực tăng trưởng cho ngành. Giá trị tiêu thụ sữa/người/năm của Việt Nam ghi nhận tăng đều qua từng năm khi từ mức 1,2 triệu đồng năm 2019 đã tăng lên 1,37 triệu đồng năm 2023 và dự báo sẽ tiếp tục tăng trong năm 2025

VFA

[searchandfilter id="2529"]