Hiệp hội Sữa Việt Nam xin trân trọng giới thiệu những thông tin cơ bản (trích từ nguồn Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại – Bộ Công Thương) diễn biến thị trường sữa tháng 4 năm 2025 :
1. Tình hình sản xuất và xuất nhập khẩu sữa tại Việt Nam
1.1. Tình hình sản xuất trong nước:
Theo Tổng cục Thống kê, trong tháng 4/2025, sản lượng sữa tươi của cả nước ước đạt 141,2 triệu lít, tăng 8,9% so với cùng kỳ năm 2024. Tính chung 4 tháng đầu năm 2025, sản lượng sữa tươi ước đạt 537,6 triệu lít, tăng 3,1% so với cùng kỳ năm Sản lượng sữa bột tháng 4/2025 ước tính đạt 13,2 nghìn tấn, tăng 3,4% so với
cùng kỳ năm 2024. Tính chung 4 tháng đầu năm 2025, sản lượng sữa bột ước đạt
46,8 nghìn tấn, tăng 0,7% so với cùng kỳ năm 2024.
Bảng 1: Sản lượng sữa trong nước 4 tháng năm 2025
| Đơn vị tính |
Thực hiện T3/2025 |
Ước tính tháng 4/2025 |
Cộng dồn 4T/2025 |
T4/2025 so với T4/2024 (%) |
4T/2025 so với 4T/2024 (%) |
|
| Sữa tươi | Triệu lít | 133,7 | 141,2 | 537,6 | 108,9 | 103,1 |
| Sữa bột | Nghìn tấn | 12,2 | 13,2 | 46,8 | 103,4 | 100,7 |
Nguồn: Tổng cục Thống kê
1.2.Tình hình nhập khẩu sữa của Việt Nam
a/ Kim ngạch nhập khẩu
Theo số liệu của Tổng cục Hải quan, trong 15 ngày đầu tháng 4/2025, kim ngạch nhập khẩu sữa và sản phẩm sữa đạt 57,3 triệu USD, tăng 4,6% so với cùng kỳ tháng 3/2025. Lũy kế từ đầu năm kim ngạch nhập khẩu mặt hàng này đạt 397,8 triệu USD, tăng 32,1% so với cùng kỳ năm 2024. Trước đó, trong tháng 3/2025, kim ngạch nhập khẩu sữa và sản phẩm sữa đạt mức 114,2 triệu USD, giảm 6,6% với tháng 2/2025. Tính chung 3 tháng đầu năm
2025, kim ngạch nhập khẩu mặt hàng này đạt 340,4 triệu USD, tăng 39,4% so với cùng kỳ năm 2024.
b/ Thị trường nhập khẩu
Về thị trường, New Zealand tiếp tục là quốc gia dẫn đầu trong cung cấp sữa cho Việt Nam với tổng kim ngạch đạt 125,59 triệu USD, chiếm gần 37% tổng nhập khẩu sữa của cả nước, tăng vọt 103,6% so với quý I/2024.
Australia xếp thứ hai với 40,14 triệu USD (tăng 32,3%), tiếp theo là Ailen đạt 22,89 triệu USD (tăng 48%).
Đáng chú ý, nhập khẩu sữa từ Mỹ giảm sâu 45,8% trong quý I/2025, chỉ còn 19,36 triệu USD, chiếm gần 6% tổng thị phần. Trong khi đó, nhập khẩu từ Thái Lan tăng 25,1% và các quốc gia EU như Đức (10,83 triệu USD) và Pháp (7,63 triệu USD) tăng lần lượt 58% và 2,7%, cho thấy xu hướng đa dạng hóa nguồn cung đang diễn ra rõ nét.
Sự gia tăng nhập khẩu sữa thời gian qua được thúc đẩy bởi nhiều yếu tố, trong đó nổi bật là nhu cầu tiêu dùng nội địa không ngừng mở rộng nhờ sự gia tăng thu nhập bình quân đầu người và nhận thức ngày càng cao về dinh dưỡng. Đồng thời, các hiệp định thương mại tự do như EVFTA, CPTPP và RCEP giúp Việt Nam hưởng lợi về thuế quan, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong nước tiếp cận nguồn sữa chất lượng cao từ nhiều thị trường lớn.
Với đà tăng trưởng hiện tại và nhu cầu tiêu dùng mạnh mẽ, thị trường sữa nhập khẩu tại Việt Nam được dự báo sẽ tiếp tục mở rộng trong các quý tới. Tuy nhiên, các doanh nghiệp cần chủ động xây dựng chiến lược cạnh tranh hiệu quả – không chỉ tập trung vào giá cả mà còn chú trọng đến chất lượng, truy xuất nguồn gốc và phát triển sản phẩm phù hợp với thị hiếu tiêu dùng trong nước.
c/ Cơ cấu chủng loại nhập khẩu
Trong 3 tháng đầu năm 2025, kim ngạch nhập khẩu một số mặt hàng sữa và sản phẩm từ sữa chính đều tăng so với cùng kỳ năm 2024
Cụ thể, kim ngạch nhập khẩu là mặt hàng sữa bột chiếm vị trí đứng đầu, đạt mức 100,1 triệu USD, tăng 40,6% so với cùng kỳ năm 2024 và chiếm 29% thị phần nhập khẩu. Kim ngạch nhập khẩu lớn nhất là từ thị trường Ailen.
Sữa bột gầy là mặt hàng đạt kim ngạch nhập khẩu cao thứ hai, đạt 74,2 triệu USD, tăng 27,1% so với cùng kỳ năm 2024. Trong đó, Việt Nam nhập khẩu sữa bột từ thị trường Australia đạt kim ngạch lớn nhất, chiếm 31% thị phần.
Kim ngạch nhập khẩu mặt hàng sữa bột nguyên kem đứng vị trí thứ ba đạt 43,5 triệu USD, tăng 84,8%.
Kim ngạch nhập khẩu một số sản phẩm sữa đạt mức tăng trưởng như chất béo khan của bơ tăng 5995; sữa tươi tiệt trùng tăng 58,2%; bơ tăng 48,7%; kem sữa tăng 75,5%; bột sữa gầy tăng 164%; sữa hữu cơ nguyên kem tăng 100,3%;…
Ngược lại, kim ngạch nhập khẩu một số mặt hàng khác sụt giảm như phô mai giảm 7,6%; sữa đặc có đường giảm 7,9%; bột váng sữa giảm 14%; bột thực phẩm giảm 1,5%; sữa chua uống giảm 24,3%,…
Bảng 2: Kim ngạch nhập khẩu một số chủng loại sữa và sản phẩm từ sữa
| Chủng loại | T3/2025 (nghìn USD) |
So với T2/2025 (%) |
3T/2025 (nghìn USD) |
So với 3T/2024 (%) |
| Sữa bột | 34.370 | -8,49 | 100.123 | 40,59 |
| Sữa bột gầy | 22.897 | -18,89 | 74.223 | 27,14 |
| Sữa bột nguyên kem | 11.683 | -18,74 | 43.530 | 84,82 |
| Chất béo khan của bơ | 7.709 | -5,28 | 23.767 | 599,83 |
| Phô mai | 8.334 | 11,24 | 20.904 | -7,63 |
| Sữa đặc có đường | 6.939 | 17,30 | 17.333 | -7,89 |
| Sữa tươi tiệt trùng | 5.657 | 17,71 | 15.201 | 58,20 |
| Bột váng sữa | 5.350 | 17,69 | 14.223 | -14,00 |
| Bơ | 3.543 | 29,83 | 9.249 | 48,75 |
| Kem sữa | 3.328 | -1,44 | 8.971 | 75,54 |
| Nguyên liệu thực phẩm | 1.975 | -22,95 | 6.274 | 78,64 |
| Bột thực phẩm | 2.027 | 29,74 | 4.964 | -1,51 |
| Sữa chua uống | 1.417 | 1,52 | 3.860 | -24,36 |
| Thức uống lúa mạch Nestle Milo | 548,1 | -49,38 | 2.226 | -9,73 |
| Chất khéo khan từ sữa | – | – | 989,1 | – |
| Thực phẩm bổ sung dinh dưỡng: không chứa sữa, dạng bột | 293,1 | 131,51 | 818,5 | 28,94 |
| Bột sữa gầy | 119,1 | -70,89 | 743,4 | 164,09 |
| Bột sữa béo chế biến sữa | 366,5 | 299,01 | 477,1 | -4,14 |
| Sữa hữu cơ nguyên kem | 148,3 | 71,69 | 379,6 | 100,34 |
| Chế phấm từ sữa | 79,7 | 113,05 | 227,2 | -19,42 |
| Bột kem | 75,6 | 6,19 | 146,7 | – |
| Sữa chua | 28,3 | -61,78 | 117,4 | -80,33 |
Nguồn: VITIC tính toán theo số liệu của TCHQ
1.3 Tình hình xuất khẩu sữa của Việt Nam
– Kim ngạch xuất khẩu
Theo số liệu của Tổng cục Hải quan, trong tháng 3/2025, kim ngạch xuất khẩu sữa và sản phẩm từ sữa đạt 30,9 triệu USD, tăng 12,5% so với tháng 12 trước đó. Tính chung3 tháng đầu năm 2025, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này đạt 85,9 triệu USD, tăng 13,3% so với cùng kỳ năm 2024.
– Thị trường xuất khẩu
Về thị trường, trong 3 tháng đầu năm 2025, kim ngạch xuất khẩu sang thị trường lớn nhất là Irăc đạt 36,3 triệu USD, tăng 1% so với cùng kỳ năm 2024 và chiếm 42% thị phần xuất khẩu. Afganistan là thị trường đứng vị trí thứ hai đạt 11,9 triệu USD, tăng mạnh 43,1%. Ngoài ra, kim ngạch xuất khẩu sữa sang một số thị trường đạt mức tăng trưởng mạnh như Campuchia tăng 11,2%; Singapore tăng 78,7%; Thái Lan tăng 71,5%. Kim ngạch xuất khẩu sữa sang thị trường Trung Quốc cũng tăng mạnh 82,1% đạt 5,1 triệu USD.
– Cơ cấu sản phẩm xuất khẩu
Trong 3 tháng đầu năm 2025, kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng sữa chính tăng so với cùng kỳ năm 2024. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng sữa bột đạt trị giá cao nhất là 51,1 triệu USD, tăng 40,2% so với cùng kỳ năm 2024. Thị trường xuất khẩu lớn nhất là Irac đạt 34 triệu USD, chiếm 66,5% tỷ trọng. Mặt hàng sữa bột nguyên kem đứng vị trí thứ hai là bột thực phẩm, đạt kim ngạch 7,7 triệu USD, tăng 12,5%. Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng khác tăng trưởng cao như bơ, chất béo khan của bơ, phô mai.
2. Diễn biến giá sữa
2.1. Diễn biến giá sữa thế giới
– Chỉ số giá sữa trên sàn thương mại sữa toàn cầu
Trên sàn thương mại sữa toàn cầu (GDT), chỉ số giá sữa trung bình trong 2 phiên giao dịch tháng 4/2025 đạt 4.317 USD/tấn, tăng 2,1% so với tháng 2 trước đó. So với cùng kỳ năm 2024, chỉ số giá sữa tăng 21,2%.
– Chỉ số giá sữa của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO)
Chỉ số giá sữa của FAO đạt trung bình 152,1 điểm trong tháng 4/2025, tăng trung bình 3,5 điểm (tương đương 2,4%) so với tháng 3 và cao hơn tới 28,4 điểm (tương đương 22,9%) so với tháng 4/2024.
Diễn biến giá sữa tại một số thị trường xuất khẩu chính
Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA), tháng 4/2025, giá các sản phẩm sữa tại một số thị trường xuất khẩu chính tiếp tục tăng do nhu cầu nhập khẩu mạnh mẽ hơn trong khi nguồn cung eo hẹp. Trong 3 tháng đầu năm 2025, theo số liệu của Clal, khối lượng nhập khẩu các sản phẩm sữa của Trung Quốc tăng 9,8% so với cùng kỳ năm 2024.
So với mức giá cùng kỳ năm 2024, giá các mặt hàng sữa đều tăng. Trong đó, giá sữa bột nguyên kem tăng lần lượt 27,6%; 25,7% và 17,3% tại Tây Âu, châu Úc, Nam Mỹ. Tương tự, giá sữa bột gầy cũng tăng 3,7%; 15,2% và 1,5% tại Tây Âu, châu Úc, Nam Mỹ. Giá bơ tăng mạnh 37,9% và 13,3% tại Tây Âu và châu Úc.
2.2. Diễn biến giá sữa tại Việt Nam
Trong tháng 4/2025, giá sữa bán lẻ trong nước ổn định.
3.Tình hình tiêu thụ sữa trong nước
Trong tháng 4/2025, tiêu thụ sữa tươi của cả nước ước đạt 132.297 nghìn lít về khối lượng và đạt 3.603 tỷ đồng về trị giá, tương ứng mức tăng 0,2% về khối lượng nhưng giảm 0,7% về trị giá so với tháng 3 trước đó. Tính chung 4 tháng đầu năm 2025, tiêu thụ sữa tươi đạt 544.652 nghìn lít và đạt 15.237 tỷ đồng.Tiêu thụ sữa bột ước đạt 20.544 tấn và đạt 823,1 tỷ đồng về trị giá, tương ứng giảm 0,9% về lượng và giảm mạnh 36,5% về trị giá so với tháng 3/2025. Tính chung 4 tháng đầu năm 2025, tiêu thụ sữa bột cả nước đạt 74.167 tấn và đạt 3.113 tỷ đồng.
VDA
