Bản tin diễn biến thị trường sữa tháng 11 năm 2025

Hiệp hội Sữa Việt Nam xin giới thiệu những thông tin cơ bản (trích từ nguồn Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại – Bộ Công Thương và Cục Thống kê) diễn biến thị trường sữa tháng 11 năm 2025 như sau:

1. Tình hình sản xuất sữa tại Việt Nam

Theo Cục Thống kê, trong tháng 11/2025, sản lượng sữa tươi của cả nước ước đạt 146,6 triệu lít, tăng 0,7% so với cùng kỳ năm 2024. Tính chung 11 tháng năm 2025, sản lượng sữa tươi ước đạt 1.535,6 triệu lít, tăng 1,5% so với cùng kỳ năm 2024.

Sản lượng sữa bột tháng 11/2025 ước tính đạt 13,4 nghìn tấn, tăng 6,9% so với cùng kỳ năm 2024. Tính chung 11 tháng năm 2025, sản lượng sữa bột ước đạt 138,8 nghìn tấn, tăng 4,1% so với cùng kỳ năm 2024.

Bảng 1: Sản lượng sữa trong nước 11 tháng năm 2025

Đơn vị tính Thực hiện T10/2025 Ước tính T11/2025 Cộng dồn 11 tháng 2025 Tháng 11/2025  so với tháng         11/2024          (%) 11 tháng 2025 so với 11 tháng 2024      (%)
Sữa tươi Triệu lít 147,9 146,6 1.535,6 0,7 1,5
Sữa bột Nghìn tấn 14,8 13,4 138,8 6,9 4,1

                                                                                                                           Nguồn: Cục Thống kê

2. Diễn biến giá

2.1. Diễn biến giá sữa thế giới

– Trên sàn thương mại sữa toàn cầu (GDT): Chỉ số giá sữa trung bình trong 2 phiên giao dịch tháng 11/2025 đạt 3.723 USD/tấn, giảm 4,6% so với tháng 10 trước đó. So với cùng kỳ năm 2024, chỉ số giá sữa giảm 6,9%.

– Chỉ số giá sữa của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp – Liên Hợp Quốc (FAO): Chỉ số giá sữa của FAO đạt trung bình 137,5 điểm trong tháng 11 năm 2025, giảm 3,1% so với tháng 10 và giảm 1,7% so với cùng kỳ năm trước. Đây là tháng giảm thứ năm liên tiếp, với mức giảm được ghi nhận trên tất cả các mặt hàng sữa
chính.
Tính chung 11 tháng năm 2025, chỉ số giá sữa trung bình đạt 148,4 điểm, tăng 15,4% so với cùng kỳ năm 2024.

– Diễn biến giá sữa tại một số thị trường xuất khẩu chính:

Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA), tháng 11/2025, giá các sản phẩm sữa tiếp tục giảm tại các thị trường xuất khẩu chính. Trong đó, giá bơ giảm chủ yếu do nguồn cung xuất khẩu từ châu Âu và New Zealand, trong khi nhu cầu nhập khẩu yếu hơn tại châu Á và Trung Đông. Giá sữa bột gầy và sữa bột nguyên kem cũng
giảm do nhu cầu yếu và cạnh tranh xuất khẩu gia tăng.
Giá một số loại nguyên liệu sữa cụ thể như sau:
+ Tại Tây Âu: So với cùng kỳ tháng 10/2025, giá sữa bột nguyên kem 26% giảm 8,7% xuống mức 3.750- 3.950 USD/tấn (FOB); giá sữa bột gầy (1,25% bơ) giảm 3,8% xuống mức 2.325- 2.525 USD/tấn (FOB); giá bơ (82% chất béo) giảm 6,6% xuống mức 5.575-6.325 USD/tấn.
+ Tại thị trường châu Úc: So với mức giá cùng kỳ tháng 10/2025, giá sữa bột nguyên kem 26% giảm 5,4% xuống mức 3.400– 3.500 USD/tấn; giá sữa bột gầy giảm 1,9% xuống mức 2.550- 2.600 USD/tấn; giá bơ (82% chất béo) giảm 4,4% xuống mức 5.850- 6.550 USD/tấn.
+ Tại Nam Mỹ: Giá sữa bột nguyên kem 26% ổn định ở mức 3.650-5.000 USD/tấn; giá sữa bột gầy cũng giữ ở mức 2.900-3.900 USD/tấn. So với cùng kỳ năm 2024, giá sữa bột nguyên kem giảm 17,2% và 6,7% tại Tây
Âu và châu Úc nhưng tăng 25% tại Nam Mỹ. Giá sữa bột gầy giảm lần lượt 10,6% và 10,3% tại Tây Âu, châu Úc nhưng tăng 14,7% tại Nam Mỹ. Giá bơ giảm 29,1% và 18,6% tại Tây Âu và châu Úc.

2.2. Diễn biến giá sữa tại Việt Nam

Trong tháng 11/2025, giá sữa bán lẻ trong nước ổn định.

3. Tình hình tiêu thụ sữa trong nước

Trong tháng 11/2025, tiêu thụ sữa tươi của cả nước ước đạt 139.393 nghìn lít về khối lượng và đạt 3.849 tỷ đồng về trị giá, tương ứng mức tăng 4,1% về khối lượng và tăng 6,4% về trị giá so với tháng 10 trước đó. Tính chung 11 tháng năm 2025, tiêu thụ sữa tươi đạt 1.529.117 nghìn lít và đạt 42.732 tỷ đồng.
Tiêu thụ sữa bột ước đạt 24.828 tấn và đạt 1.783 tỷ đồng về trị giá, tương ứng giảm 1,2% về lượng nhưng tăng 0,2% về trị giá so với tháng 10/2025. Tính chung 11 tháng năm 2025, tiêu thụ sữa bột cả nước ước đạt 269.370 tấn và đạt 16.712 tỷ đồng.

4.Tình hình nhập khẩu sữa của Việt Nam

4.1. Kim ngạch nhập khẩu

Theo số liệu của Cục Hải quan, trong 15 ngày đầu tháng 11/2025, kim ngạch nhập khẩu sữa và sản phẩm sữa đạt 54,64 triệu USD, tăng 22,5% so với cùng kỳ tháng 10/2025. Lũy kế từ đầu năm kim ngạch nhập khẩu mặt hàng này đạt 1.21 triệu USD, tăng 23,3% so với cùng kỳ năm 2024.
Trước đó, trong tháng 10/2025, kim ngạch nhập khẩu sữa và sản phẩm sữa đạt mức 102,2 triệu USD, tăng 2,1% với tháng 9/2025. Tính chung 10 tháng năm 2025, kim ngạch nhập khẩu mặt hàng này đạt 1,16 tỷ USD, tăng 25,4% so với cùng kỳ năm 2024.

4.2. Thị trường nhập khẩu         

Về thị trường, trong 10 tháng năm 2025, New Zealand, Mỹ, Australia, Ai len và Thái Lan là các thị trường chủ yếu cung cấp sữa và sản phẩm cho Việt Nam; trong đó nhập khẩu nhiều nhất từ New Zealand đạt 311,8 triệu USD, chiếm 29% trong tổng kim ngạch nhập khẩu nhập khẩu nhóm hàng này của cả nước, tăng mạnh 44,5% so với 10 tháng năm 2024.
Nhập khẩu sữa và sản phẩm sữa từ thị trường Australia tăng 5,1% so với 10 tháng năm 2024, đạt 101,5 triệu USD, chiếm 9%. Nhập khẩu sữa từ thị trường Ai len tăng mạnh 50,1%, đạt 56,6 triệu USD, chiếm 5%.
Kim ngạch nhập khẩu sữa và sản phẩm sữa từ thị trường Mỹ đứng vị trí thứ 2 nhưng lại giảm 5,6%, đạt 101,6 triệu USD.

Ngoài ra, Việt Nam còn nhập khẩu sữa từ thị trường Đông Nam Á, EU… với kim ngạch tăng mạnh trong 10 tháng năm nay như Đức tăng 71,4%; Hà Lan tăng 16,6%; Bỉ tăng 220%; Pháp tăng 15,6%; Thái Lan tăng 16,8%; Singapore tăng 18,7%;…

                Biểu đồ 1: Cơ cấu thị trường nhập khẩu sữa theo kim ngạch 10 tháng đầu năm 2025               

4.3. Cơ cấu chủng loại nhập khẩu     

Trong tháng 10 /2025, kim ngạch nhập khẩu 2 mặt hàng chính là sữa bột và sữa bột gầy đều sụt giảm lần lượt là 0,6% và 42,1% so với tháng 9 trước đó. Tính chung 10 tháng năm 2025, kim ngạch nhập khẩu sữa bột vẫn tăng mạnh 26,2% so với cùng kỳ năm 2024 đạt 346,1 triệu USD, chiếm 29% thị phần nhập khẩu. Kim ngạch nhập khẩu lớn nhất là từ thị trường Ailen.

Sữa bột gầy là mặt hàng đạt kim ngạch nhập khẩu cao thứ hai, đạt 251,7 triệu USD, tăng 19,8% so với cùng kỳ năm 2024. Trong đó, Việt Nam nhập khẩu sữa bột gầy từ thị trường Australia đạt kim ngạch lớn nhất, chiếm 20% thị phần.

Kim ngạch nhập khẩu mặt hàng sữa bột nguyên kem đứng vị trí thứ ba đạt 129,5 triệu USD, tăng 75,9%.
Kim ngạch nhập khẩu một số sản phẩm sữa đạt mức tăng trưởng như chất béo khan của bơ tăng 174,6%; sữa tươi tiệt trùng tăng 38,6%; bơ tăng 34,5%; kem sữa tăng 3633,5%; bột sữa gầy tăng 166%; sữa hữu cơ nguyên kem tăng 95,5%;…

Ngược lại, kim ngạch nhập khẩu một số mặt hàng khác sụt giảm như sữa đặc có đường giảm 20,7%; sữa chua uống giảm 11%, sữa chua giảm 67,4%…

Biểu đồ 2: Cơ cấu một số chủng loại sữa và sản phẩm từ sữa nhập khẩu theokim ngạch 10 tháng năm 2025

5. Tình hình xuất khẩu sữa của Việt Nam

5.1. Kim ngạch xuất khẩu

Theo số liệu của Cục Hải quan, trong tháng 10/2025, kim ngạch xuất khẩu sữa và sản phẩm từ sữa đạt 31,05 triệu USD, quay đầu giảm 14,48% so với tháng 9 trước đó. Tính chung 10 tháng năm 2025, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này đạt 325,1 triệu USD, tăng 18,08% so với cùng kỳ năm 2024.

5.2. Thị trường xuất khẩu

Về thị trường, trong 10 tháng năm 2025, kim ngạch xuất khẩu sang thị trường lớn nhất là Irăc đạt 146,3 triệu USD, tăng 14,2% so với cùng kỳ năm 2024 và chiếm 45% thị phần xuất khẩu. Campuchia vươn lên thị trường thứ hai đạt 41,2 triệu USD, tăng mạnh 116,9%.
Ngoài ra, kim ngạch xuất khẩu sữa sang một số thị trường đạt mức tăng trưởng mạnh như Singapore tăng 117,4%; Ghine tăng 84,6%. Kim ngạch xuất khẩu sữa sang thị trường Trung Quốc cũng tăng mạnh 30,8%
đạt 17,1triệu USD.

   Biểu đồ 3: Cơ cấu thị trường xuất khẩu sữa theo kim ngạch 10 tháng năm 2025

5.3. Cơ cấu sản phẩm xuất khẩu

Trong 10 tháng năm 2025, kim ngạch xuất khẩu hầu hết các mặt hàng sữa chính đều tăng so với cùng kỳ năm 2024.
Trong đó, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng sữa bột đạt trị giá cao nhất chiếm 51%. Mặt hàng đứng vị trí thứ hai là sữa bột nguyên kem, đạt kim ngạch chiếm 12%. Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng khác tăng trưởng cao như bơ, nguyên liệu thực phẩm, chất béo khan của bơ, phô mai.

Biểu đồ 4: Cơ cấu một số chủng loại sữa và sản phẩm sữa xuất khẩu theo kim ngạch 10 tháng đầu năm 2025

Bảng 2: Một số doanh nghiệp thành viên Hiệp hội Sữa Việt Nam xuất khẩu sữa đạt kim ngạch cao 10 tháng năm 2025

Doanh nghiệp Tỷ trọng (%)
Công ty CP Sữa Việt Nam (Vinamilk) 73,4
Công ty TNHH Bel Việt Nam 5,5
Công ty TNHH Frieslandcampina Việt Nam 3,6
Công ty CP Đại Tân Việt 1,4
Công ty CP Thực phẩm Dinh dưỡng Nutifood Bình Dương 1,0
Công ty TNHH Nestlé Việt Nam 0,5
Công ty CP Dinh dưỡng Nutricare 0,2

6. Dự báo

6.1. Dự báo thị trường sữa thế giới
Theo Báo cáo Đánh giá và Triển vọng Hàng năm của Teagasc, thị trường sữa toàn cầu sẽ đối mặt với một năm 2026 đầy thách thức, dự báo triển vọng ngắn hạn rõ ràng là tiêu cực. Sau mức tăng trưởng sản lượng sữa khiêm tốn trong năm 2023 và 2024, phản ứng tích cực từ nguồn cung trong năm 2025 đã tạo ra tình trạng thừa cung đáng kể các mặt hàng sữa trên toàn thế giới trong nửa cuối năm. Tình trạng dư cung này là động lực chính dẫn đến sự suy yếu của thị trường, đòi hỏi các nhà sản xuất và chế biến trên toàn bộ lĩnh vực kinh doanh nông nghiệp phải đánh giá chiến lược ngay lập tức.

Trong khi sản lượng sữa của EU dự kiến sẽ không thay đổi trong năm 2026, các khu vực xuất khẩu sữa chính lại dự báo tăng trưởng: sản lượng của Mỹ dự kiến tăng 1,3%, New Zealand tăng 1% và Argentina tăng đáng kể 4%. Nhìn chung, nguồn cung sữa toàn cầu dự kiến sẽ tăng 0,6%, tương đương 1,7 triệu tấn vào năm tới. Chỉ có sản lượng của Úc được dự báo sẽ giảm, ước tính giảm 2%. Tình trạng dư cung này sẽ trực tiếp dẫn đến sự giảm giá. Teagasc dự báo giá sữa trung bình tại Ireland năm 2026 sẽ giảm xuống còn 42 cent/lít, tương đương với giá cơ sở là 37 cent/lít. Điều này thể hiện mức giảm nghiêm trọng 20% so với giá trung bình ước tính cho năm 2025. Thêm vào đó, kết quả đấu giá từ Hiệp hội Thương mại Sữa Toàn cầu (GDT) cho thấy giá cả tiếp tục giảm, cho thấy giá sữa Ireland có khả năng sẽ thấp hơn mức trung bình của EU trong năm 2026.
Tác động mạnh nhất của giá cả giảm sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến biên lợi nhuận và khả năng sinh lời của các trang trại. Báo cáo dự báo mức giảm mạnh 45% trong biên lợi nhuận ròng trung bình trên mỗi hecta, giảm mạnh từ mức ước tính 2.618 Euro năm 2025 xuống chỉ còn 1.454 Euro năm 2026. Do đó, thu nhập trung bình của các trang trại sữa ước tính sẽ giảm mạnh từ 137.000 Euro năm 2025 xuống còn 80.000 euro vào năm tới – một sự sụt giảm tài chính đáng kể, đòi hỏi các chiến lược quản lý chi phí và tối ưu hóa nghiêm ngặt trên toàn ngành sữa.

6.2. Dự báo thị trường sữa Việt Nam
Thị trường sữa Việt Nam đang trải qua giai đoạn chuyển đổi quan trọng với nhiều cơ hội và thách thức đan xen. Cụ thể:

Xu hướng tiêu dùng thông minh: Người tiêu dùng Việt Nam ngày càng chú trọng đến sức khỏe và dinh dưỡng, dẫn đến nhu cầu cao đối với các sản phẩm sữa chất lượng cao và đa dạng. Điều này tạo cơ hội cho các doanh nghiệp phát triển sản phẩm mới, đặc biệt trong phân khúc sữa chức năng và sữa hữu cơ.

Cạnh tranh và đổi mới: Sự cạnh tranh gay gắt trong ngành đòi hỏi các doanh nghiệp phải liên tục đổi mới. Việc đầu tư vào R&D không chỉ giới hạn ở phát triển sản phẩm mới mà còn bao gồm cả việc tối ưu hóa quy trình sản xuất, cải thiện chất lượng và giảm chi phí. Các công ty cần xây dựng chiến lược marketing sáng tạo, tận
dụng công nghệ số và phương tiện truyền thông xã hội để tiếp cận khách hàng hiệu quả hơn.

Phát triển bền vững: Xu hướng tiêu dùng xanh đang tạo ra một làn sóng mới trong ngành sữa. Các doanh nghiệp cần chú trọng đến việc phát triển chuỗi cung ứng bền vững, từ nguồn nguyên liệu đến quy trình sản xuất và đóng gói. Đây không chỉ là trách nhiệm xã hội mà còn là cơ hội để xây dựng thương hiệu mạnh và thu hút phân khúc khách hàng có ý thức về môi trường.

Cơ hội xuất khẩu: Tiềm năng mở rộng thị trường quốc tế, đặc biệt là thị trường Đông Nam Á, khu vực tiêu thụ sản phẩm thực phẩm Hala.

Áp dụng công nghệ 4.0: Việc áp dụng các công nghệ tiên tiến như IoT, AI và Big Data trong quản lý chuỗi cung ứng, sản xuất và phân phối sẽ giúp các doanh nghiệp tối ưu hóa hoạt động, giảm chi phí và nâng cao chất lượng sản phẩm. Đây sẽ là yếu tố quan trọng quyết định khả năng cạnh tranh trong tương lai.

VDA

[searchandfilter id="2529"]