Hiệp hội Sữa Việt Nam xin giới thiệu những thông tin cơ bản (trích từ nguồn Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại – Bộ Công Thương và Cục Thống kê) diễn biến thị trường sữa tháng 9 năm 2025 như sau:
1. Tình hình sản xuất sữa tại Việt Nam
Theo Cục Thống kê, trong tháng 9/2025, sản lượng sữa tươi của cả nước ước đạt 136,3 triệu lít, giảm 0,5% so với cùng kỳ năm 2024. Tính chung 9 tháng năm 2025, sản lượng sữa tươi ước đạt 1.243,5 triệu lít, tăng 1,6% so với cùng kỳ năm 2024.
Sản lượng sữa bột tháng 9/2025 ước tính đạt 12,5 nghìn tấn, tăng 1,3% so với cùng kỳ năm 2024. Tính chung 9 tháng năm 2025, sản lượng sữa bột ước đạt 112 nghìn tấn, tăng 3,9% so với cùng kỳ năm 2024. 1.243,5
Bảng 1: Sản lượng sữa trong nước 9 tháng năm 2025
| Đơn vị tính | Thực hiện T8/2025 | Ước tính T9/2025 | Cộng dồn 9 tháng 2025 | Tháng 9/2025 so với tháng 9/2024 (%) | 9 tháng 2025 so với 9 tháng 2024 (%) | |
| Sữa tươi | Triệu lít | 137,4 | 136,3 | 1.243,5 | 95.0 | 101,6 |
| Sữa bột | Nghìn tấn | 12,5 | 13,4 | 112,0 | 101,3 | 103,9 |
Nguồn: Cục Thống kê
2. Diễn biến giá
2.1. Diễn biến giá sữa thế giới
– – Chỉ số giá sữa trên sàn thương mại sữa toàn cầu: Trên sàn thương mại sữa toàn cầu (GDT), chỉ số giá sữa trung bình trong 2 phiên giao dịch tháng 9/2025 đạt 4.042 USD/tấn, giảm 5,3% so với tháng 8 trước đó. So với cùng kỳ năm 2024, chỉ số giá sữa tăng 4,7%.
– Chỉ số giá sữa của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp – Liên Hợp Quốc (FAO): Chỉ số giá sữa của FAO đạt trung bình 152,6 điểm trong tháng 8 năm 2025, giảm 1,3% so với tháng 7, đánh dấu tháng giảm thứ hai liên tiếp, nhưng vẫn cao hơn 16,2% so với cùng kỳ năm trước.
– Diễn biến giá sữa tại một số thị trường xuất khẩu chính
Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA), tháng 9/2025, giá các sản phẩm sữa giảm tại các thị trường xuất khẩu chính. Trong đó, giá bơ giảm do nguồn cung ổn định tại New Zealand và Liên minh châu Âu đã thúc đẩy nguồn cung toàn cầu, trong khi nhu cầu nhập khẩu, đặc biệt là từ châu Á, vẫn ở mức thấp. Giá sữa bột gầy và sữa bột nguyên kem giảm là do nhu cầu yếu từ các nước nhập khẩu chính.
Giá một số loại nguyên liệu sữa cụ thể như sau:
+ Tại Tây Âu: So với cùng kỳ tháng 8/2025, giá sữa bột nguyên kem 26% giảm 2,9% xuống mức 4.675- 4.950 USD/tấn (FOB); giá sữa bột gầy (1,25% bơ) giảm 2,6% xuống mức 2.575- 2.750 USD/tấn (FOB); giá bơ (82% chất béo) giảm 4,2% xuống mức 7.125-8.150 USD/tấn. + Tại thị trường châu Úc: So với mức giá cùng kỳ tháng 8/2025, giá sữa bột nguyên kem 26% giảm 1,2% xuống mức 3.725– 4.000 USD/tấn; giá sữa bột gầy giảm 17,3% xuống mức 2.800- 3.325 USD/tấn; giá bơ (82% chất béo) giảm 0,9% xuống mức 6.875- 7.300 USD/tấn.
+ Tại thị trường châu Úc: So với mức giá cùng kỳ tháng 8/2025, giá sữa bột nguyên kem 26% giảm 1,2% xuống mức 3.725– 4.000 USD/tấn; giá sữa bột gầy giảm 17,3% xuống mức 2.800- 3.325 USD/tấn; giá bơ (82% chất béo) giảm 0,9% xuống mức 6.875- 7.300 USD/tấn.
+ Tại Nam Mỹ: Giá sữa bột nguyên kem 26% ổn định ở mức 3.800-4.600 USD/tấn; giá sữa bột gầy cũng ổn định ở mức 2.900-3.800 USD/tấn. So với mức giá đầu năm 2025, giá sữa bột nguyên kem tăng lần lượt 6,4%; 0,6% và 9,5% tại Tây Âu, châu Úc và Nam Mỹ. Giá sữa bột gây giảm lần lượt 2,6% và 3,5% tại Tây Âu, châu Úc nhưng tăng 18,7% tại Nam Mỹ. Giá bơ tăng 2,5% và 4,6% tại Tây Âu và châu Úc.
2.2. Diễn biến giá sữa tại Việt Nam
Trong tháng 9/2025, giá sữa bán lẻ trong nước ổn định.
3. Tình hình tiêu thụ sữa trong nước
Trong tháng 9/2025, tiêu thụ sữa tươi của cả nước ước đạt 132.881 nghìn lít về khối lượng và đạt 4.611 tỷ đồng về trị giá, tương ứng mức giảm 3,2% về khối lượng nhưng tăng 39,4% về trị giá so với tháng 8 trước đó. Tính chung, 9 tháng năm 2025, tiêu thụ sữa tươi đạt 1.252.996 nghìn lít và đạt 35.220 tỷ đồng. Tiêu thụ sữa bột ước đạt 26.823 tấn và đạt 1.743 tỷ đồng về trị giá, tương ứng giảm 3,4% về lượng và giảm 3,9% về trị giá so với tháng 8/2025. Tính chung 9 tháng năm 2025, tiêu thụ sữa bột cả nước ước đạt 218.176 tấn và đạt 12.929 tỷ đồng.
4.Tình hình nhập khẩu sữa của Việt Nam
4.1. Kim ngạch nhập khẩu
Theo số liệu của Cục Hải quan, trong 15 ngày đầu tháng 9/2025, kim ngạch nhập khẩu sữa và sản phẩm sữa đạt 47,35 triệu USD, giảm 18,8% so với cùng kỳ tháng 8/2025. Lũy kế từ đầu năm kim ngạch nhập khẩu mặt hàng này đạt 1.007 triệu USD, tăng 28,9% so với cùng kỳ năm 2024. Trước đó, trong tháng 8/2025, kim ngạch nhập khẩu sữa và sản phẩm sữa đạt mức 105,5 triệu USD, giảm 18,3% với tháng 7/2025. Tính chung 8 tháng năm 2025 kim ngạch nhập khẩu mặt hàng này đạt 962,8 triệu USD, tăng 29,3% so với cùng kỳ năm 2024
4.2. Thị trường nhập khẩu
Về thị trường nhập khẩu, trong 8 tháng năm 2025, New Zealand, Mỹ, Australia, Ai len và Thái Lan là các thị trường chủ yếu cung cấp sữa và sản phẩm cho Việt Nam; trong đó nhập khẩu nhiều nhất từ New Zealand đạt 291,9 triệu USD, chiếm 30% trong tổng kim ngạch nhập khẩu nhập khẩu nhóm hàng này của cả nước, tăng mạnh 52,2% so với 8 tháng năm 2024. Nhập khẩu sữa và sản phẩm sữa từ thị trường Australia tăng 5,1% so với 8 tháng năm 2024, đạt 85,8 triệu USD, chiếm 9%. Nhập khẩu sữa từ thị trường Ai len tăng mạnh 45,9%, đạt 47,5 triệu USD, chiếm 5%. Kim ngạch nhập khẩu sữa và sản phẩm sữa từ thị trường Mỹ đứng vị trí thứ 3 nhưng lại giảm 12,3%, đạt 79,7 triệu USD. Ngoài ra, Việt Nam còn nhập khẩu sữa từ thị trường Đông Nam Á, EU… với kim ngạch tăng mạnh trong 8 tháng năm nay như Đức tăng 102,1%; Hà Lan tăng 32,9%; Bỉ tăng 352%; Thái Lan tăng 202%; Singapore tăng 21,8%;…
Biểu đồ 1: Cơ cấu thị trường nhập khẩu sữa theo kim ngạch 8 tháng đầu năm 2025
4.3. Cơ cấu chủng loại nhập khẩu
Trong tháng 8/2025, kim ngạch nhập khẩu mặt hàng chính là sữa bột tiếp tục giảm so với tháng 7 trước đó với mức giảm 23,1%. Tuy nhiên, tính chung 8 tháng năm 2025, kim ngạch nhập khẩu vẫn tăng mạnh 32,6% so với cùng kỳ năm 2024 đạt 283,8 triệu USD, chiếm 29% thị phần nhập khẩu. Kim ngạch nhập khẩu lớn nhất là từ thị trường Ailen.
Sữa bột gầy là mặt hàng đạt kim ngạch nhập khẩu cao thứ hai, đạt 213,8 triệu USD, tăng 25,6% so với cùng kỳ năm 2024. Trong đó, Việt Nam nhập khẩu sữa bột từ thị trường Australia đạt kim ngạch lớn nhất, chiếm 20% thị phần.
Kim ngạch nhập khẩu mặt hàng sữa bột nguyên kem đứng vị trí thứ ba đạt 112,5 triệu USD, tăng 74,8%.
Kim ngạch nhập khẩu một số sản phẩm sữa đạt mức tăng trưởng như chất béo khan của bơ tăng 195%; sữa tươi tiệt trùng tăng 38%; bơ tăng 37,6%; kem sữa tăng 37%; bột sữa gầy tăng 166%; sữa hữu cơ nguyên kem tăng 82,2%;…
Ngược lại, kim ngạch nhập khẩu một số mặt hàng khác sụt giảm như sữa đặc có đường giảm 24%; sữa chua uống giảm 17,8%, sữa chua giảm 69,2%…
Biểu đồ 2: Cơ cấu một số chủng loại sữa và sản phẩm từ sữa nhập khẩu theo
kim ngạch 8 tháng năm 2025
5. Tình hình xuất khẩu sữa của Việt Nam
5.1. Kim ngạch xuất khẩu
Theo số liệu của Cục Hải quan, trong tháng 8/2025, kim ngạch xuất khẩu sữa và sản phẩm từ sữa đạt 35,8 triệu USD, quay đầu giảm 7,1% so với tháng 7 trước đó. Tính chung 8 tháng năm 2025, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này đạt 257,7 triệu USD, tăng 15,4% so với cùng kỳ năm 2024.
5.2. Thị trường xuất khẩu
Về thị trường xuất khẩu, trong 8 tháng năm 2025, kim ngạch xuất khẩu sang thị trường lớn nhất là Irăc đạt 124,1 triệu USD, tăng 16,5% so với cùng kỳ năm 2024 và chiếm 48% thị phần xuất khẩu. Afganistan là thị trường đứng vị trí thứ hai đạt 28,6 triệu USD, tăng 21,2%.
Ngoài ra, kim ngạch xuất khẩu sữa sang một số thị trường đạt mức tăng trưởng mạnh như Singapore tăng 133,3%; Campuchia tăng 35,5%.
Kim ngạch xuất khẩu sữa sang thị trường Trung Quốc cũng tăng mạnh 36,8% đạt 13,8 triệu USD.
Biểu đồ 3: Cơ cấu thị trường xuất khẩu sữa theo kim ngạch 8 tháng năm 2025
5.3. Cơ cấu sản phẩm xuất khẩu
Trong 8 tháng năm 2025, kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng sữa chính tăng so với cùng kỳ năm 2024. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng sữa bột đạt trị giá cao nhất là 140,8 triệu USD, tăng 32,8% so với cùng kỳ năm 2024. Thị trường xuất khẩu lớn nhất là Irac đạt 99,9 triệu USD, chiếm 71% tỷ trọng.
Mặt hàng đứng vị trí thứ hai là sữa bột nguyên kem, đạt kim ngạch 30,7 triệu USD, giảm 12,3%.
Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng khác tăng trưởng cao như bơ, nguyên liệu thực phẩm, chất béo khan của bơ, phô mai.
Ngược lại, kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng sụt giảm như sữa đặc có đường giảm 13,9%; sữa tươi tiệt trùng giảm 6,5%; sữa bột gầy giảm 11,3%;…
Biểu đồ 4: Cơ cấu một số chủng loại sữa và sản phẩm sữa xuất khẩu theo
kim ngạch 8 tháng đầu năm 2025
Bảng 2: Một số doanh nghiệp thành viên Hiệp hội Sữa Việt Nam xuất khẩu sữa đạt kim ngạch cao 8 tháng năm 2025
| Doanh nghiệp | Tỷ trọng (%) |
| Công ty CP Sữa Việt Nam (Vinamilk) | 73,6 |
| Công ty TNHH Frieslandcampina Việt Nam | 3,6 |
| Công ty TNHH Bel Việt Nam | 5,7 |
| Công ty CP Đại Tân Việt | 1,5 |
| Công ty CP Thực phẩm Dinh dưỡng Nutifood Bình Dương | 0,7 |
| Công ty TNHH Nestlé Việt Nam | 0,4 |
| Công ty TNHH Frieslandcampina Hà Nam | 0,2 |
| Công ty CP Dinh dưỡng Nutricare | 0,2 |
6. Dự báo
6.1. Dự báo thị trường sữa thế giới
Dự báo, giá sữa toàn cầu sẽ có những biến động tăng giảm đan xen trong quý IV năm 2025, với nguồn cung tăng bị kiềm chế bởi nhu cầu mạnh mẽ và biến động dai dẳng từ căng thẳng thương mại và các yếu tố kinh tế vĩ mô. Mặc dù sản lượng sữa dự kiến sẽ tăng trưởng ở hầu hết các khu vực trọng điểm, đặc biệt là Hoa Kỳ và EU, nhưng mức giá vẫn chịu ảnh hưởng bởi nhu cầu tiêu dùng chưa có nhiều khởi sắc, tác động tiềm ẩn của thuế quan và các yếu tố đặc thù thị trường như giá sữa bột nguyên kem và chi phí thức ăn chăn nuôi. Theo đó, giá sẽ điều chỉnh giảm từ mức cao nhất trong nhiều năm.
6.2. Dự báo thị trường sữa Việt Nam
Thị trường sữa Việt Nam dự kiến có tốc độ tăng trưởng tốt trong năm 2025, với khối lượng tiêu thụ trung bình đầu người đạt khoảng 20,7 kg, tăng 5% so với năm trước. Sự bùng nổ nhu cầu tiêu dùng sữa trong nước là động lực chính thúc đẩy thị trường, tạo điều kiện cho sự phát triển của các sản phẩm mới và cạnh tranh gay gắt hơn.
Tuy nhiên, các doanh nghiệp nội đang đối mặt với sức ép cạnh tranh lớn từ các thương hiệu ngoại, buộc các doanh nghiệp phải chú trọng hơn đến việc đổi mới, cải thiện chất lượng và minh bạch nguồn gốc sản phẩm.
Dự báo cho giai đoạn cuối năm: Với đà tăng trưởng tích cực của nửa đầu năm và xu hướng tiêu thụ sữa không ngừng tăng lên, thị trường sữa Việt Nam được dự báo sẽ tiếp tục sôi động trong những tháng cuối năm 2025. Để đáp ứng nhu cầu tăng cao, các doanh nghiệp sẽ đẩy mạnh sản xuất trong nước và gia tăng nhập khẩu sữa.
Các vụ việc sữa giả bị phát hiện gần đây càng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc quản lý chất lượng và nguồn gốc sản phẩm, yếu tố then chốt để duy trì niềm tin của người tiêu dùng và phát triển bền vững.
VDA




