Chăn nuôi Việt Nam bứt phá ngoạn mục:[Bài 4] Chuyển từ ứng phó sang quản lý rủi ro dịch bệnh

Sự phát triển của khoa học công nghệ trong nghiên cứu, sản xuất vaccine và thuốc thú y giúp ngành chăn nuôi chuyển từ ứng phó sang quản lý rủi ro dịch bệnh chủ động.

Nhiều công nghệ hiện đại được ứng dụng rộng rãi

TS Nguyễn Thị Hương, Chủ tịch Hội Khoa học kỹ thuật Thú y Việt Nam nhấn mạnh, vaccine và thuốc thú y là những công cụ sinh học quan trọng trong hệ thống kiểm soát dịch bệnh và bảo đảm an toàn sinh học cho ngành chăn nuôi.

Trong thực tiễn sản xuất, ngành chăn nuôi luôn phải đối mặt với nguy cơ xuất hiện và lây lan nhiều bệnh truyền nhiễm nguy hiểm. Khi quy mô chăn nuôi ngày càng lớn, mật độ nuôi cao và hoạt động giao thương ngày càng mở rộng, nguy cơ bùng phát và lan rộng dịch bệnh cũng gia tăng đáng kể.

TS Nguyễn Thị Hương, Chủ tịch Hội Khoa học kỹ thuật Thú y Việt Nam nhấn mạnh sự phát triển của khoa học công nghệ đang giúp ngành chăn nuôi chuyển từ cách tiếp cận ứng phó sang quản lý rủi ro dịch bệnh một cách chủ động. Ảnh: Hồng Thắm.

TS Nguyễn Thị Hương, Chủ tịch Hội Khoa học kỹ thuật Thú y Việt Nam nhấn mạnh sự phát triển của khoa học công nghệ đang giúp ngành chăn nuôi chuyển từ cách tiếp cận ứng phó sang quản lý rủi ro dịch bệnh một cách chủ động. Ảnh: Hồng Thắm.

Những năm gần đây, nhiều bệnh truyền nhiễm nguy hiểm như dịch tả lợn Châu Phi, cúm gia cầm hay lở mồm long móng đã gây thiệt hại lớn cho người chăn nuôi và ảnh hưởng đến sự ổn định của ngành.

Trong hệ thống các biện pháp kiểm soát dịch bệnh, vaccine đóng vai trò tạo miễn dịch chủ động cho vật nuôi, giúp phòng bệnh từ sớm và giảm nguy cơ bùng phát dịch trên diện rộng. Trong khi đó, thuốc thú y hỗ trợ điều trị, kiểm soát và khống chế dịch bệnh khi phát sinh.

TS Nguyễn Thị Hương cho biết Việt Nam hiện có hơn 90 đơn vị sản xuất thuốc thú y đạt tiêu chuẩn GMP-WHO, trong đó có hơn 10 đơn vị sản xuất vaccine thú y. Đây là nền tảng quan trọng để tiếp tục phát triển các sản phẩm vaccine trong nước.

Vì vậy, vaccine và thuốc thú y không chỉ là công cụ kỹ thuật của ngành thú y mà còn góp phần quan trọng bảo đảm an toàn dịch bệnh, an toàn thực phẩm và sự phát triển bền vững của ngành chăn nuôi.Theo TS Hương, những năm gần đây, khoa học công nghệ đã góp phần quan trọng trong việc nâng cao năng lực nghiên cứu, sản xuất vaccine và thuốc thú y của Việt Nam.

Trước hết, năng lực nghiên cứu của các viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp trong nước đã được cải thiện đáng kể. Nhiều sản phẩm vaccine và thuốc thú y do Việt Nam nghiên cứu và sản xuất đã được ứng dụng rộng rãi trong thực tiễn, góp phần nâng cao khả năng chủ động trong công tác phòng chống dịch bệnh.

Bên cạnh đó, công nghệ sản xuất và hệ thống kiểm soát chất lượng trong ngành thuốc thú y cũng đã có những bước tiến rõ rệt. Nhiều doanh nghiệp đã đầu tư dây chuyền sản xuất hiện đại và áp dụng các tiêu chuẩn quản lý chất lượng như GMP, GLP và ISO, góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm và đáp ứng tốt hơn các yêu cầu của thị trường.

Đặc biệt, các công nghệ sinh học hiện đại như công nghệ nuôi cấy tế bào, công nghệ tái tổ hợp và các kỹ thuật chẩn đoán sinh học phân tử đang được ứng dụng ngày càng rộng rãi trong nghiên cứu và sản xuất vaccine. Những tiến bộ này giúp rút ngắn thời gian nghiên cứu, nâng cao hiệu quả và độ an toàn của sản phẩm.

Việt Nam và cuộc đua công nghệ vaccine thế hệ mới

Chủ tịch Hội Khoa học kỹ thuật Thú y Việt Nam khẳng định: “Việt Nam hoàn toàn có khả năng từng bước nâng cao mức độ tự chủ về vaccine và thuốc thú y. Những năm qua, chúng ta đã xây dựng được nền tảng khá quan trọng về năng lực nghiên cứu khoa học, hệ thống sản xuất cũng như đội ngũ cán bộ kỹ thuật trong lĩnh vực thú y và công nghệ sinh học”.

Nhiều viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp trong nước đã tham gia tích cực vào nghiên cứu, sản xuất vaccine và thuốc thú y. Một số sản phẩm do Việt Nam phát triển đã được ứng dụng hiệu quả trong thực tiễn và góp phần nâng cao năng lực phòng chống dịch bệnh.

Việt Nam có lợi thế đã hình thành nền tảng nghiên cứu về công nghệ sinh học cùng với hệ thống các viện nghiên cứu, trường đại học và một số doanh nghiệp có năng lực sản xuất vaccine và thuốc thú y. Ảnh: Hồng Thắm.

Việt Nam có lợi thế đã hình thành nền tảng nghiên cứu về công nghệ sinh học cùng với hệ thống các viện nghiên cứu, trường đại học và một số doanh nghiệp có năng lực sản xuất vaccine và thuốc thú y. Ảnh: Hồng Thắm.

Tuy nhiên, để đạt được mức độ tự chủ bền vững, cần tiếp tục tăng cường đầu tư cho nghiên cứu khoa học, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ sinh học và vaccine thế hệ mới. Đồng thời cần thúc đẩy sự liên kết giữa viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp nhằm hình thành chuỗi giá trị từ nghiên cứu, thử nghiệm đến sản xuất và thương mại hóa sản phẩm.

Hiện nay, nhiều quốc gia đang phát triển các nền tảng vaccine thế hệ mới như vaccine tái tổ hợp, vaccine vector hay vaccine mRNA. Trong cuộc đua này, Việt Nam hiện vẫn đang ở giai đoạn tiếp cận và từng bước phát triển công nghệ, chưa thuộc nhóm các quốc gia dẫn đầu.

Tuy nhiên, chúng ta có lợi thế là đã hình thành nền tảng nghiên cứu về công nghệ sinh học cùng với hệ thống các viện nghiên cứu, trường đại học và một số doanh nghiệp có năng lực sản xuất vaccine và thuốc thú y.

Theo đó, TS Hương cho rằng để bắt kịp xu hướng công nghệ này, Việt Nam cần tăng cường đầu tư cho nghiên cứu và phát triển, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế nhằm tiếp cận và chuyển giao các công nghệ tiên tiến.

Đồng thời, việc thúc đẩy liên kết giữa khu vực nghiên cứu và khu vực sản xuất cũng đóng vai trò quan trọng trong việc rút ngắn khoảng cách từ nghiên cứu khoa học đến ứng dụng thực tiễn.

Chuyển từ ứng phó sang quản lý rủi ro chủ động

Chia sẻ về vai trò của khoa học công nghệ đối với lĩnh vực sản xuất vaccine và thuốc thú y, TS Hương đánh giá sự phát triển của khoa học công nghệ đang giúp ngành chăn nuôi chuyển từ cách tiếp cận ứng phó sang quản lý rủi ro dịch bệnh một cách chủ động.

Trước đây, công tác thú y chủ yếu tập trung xử lý khi dịch bệnh đã xảy ra. Tuy nhiên, với sự phát triển của công nghệ sinh học, các kỹ thuật chẩn đoán phân tử và hệ thống giám sát dịch bệnh hiện đại, việc phát hiện sớm mầm bệnh và dự báo nguy cơ dịch bệnh đã trở nên khả thi hơn.

Đặc biệt, việc nghiên cứu và sản xuất vaccine chất lượng cao cho phép xây dựng các chương trình phòng bệnh chủ động cho đàn vật nuôi, qua đó hạn chế nguy cơ bùng phát dịch bệnh trên diện rộng.

Cách tiếp cận này giúp chuyển từ mô hình ứng phó sang mô hình quản lý rủi ro và kiểm soát dịch bệnh dựa trên khoa học và dữ liệu.

Từ thực tiễn đó, nhu cầu tiếp tục đầu tư cho nghiên cứu vaccine và thuốc thú y ngày càng trở nên cấp thiết, không chỉ đối với ngành thú y mà còn đối với toàn bộ chuỗi giá trị chăn nuôi.

Việt Nam đã sản xuất thành công và thương mại hóa vaccine dịch tả lợn Châu Phi, trở thành quốc gia đầu tiên trên thế giới cấp phép lưu hành thương mại vaccine này. Ảnh: Hồng Thắm.

Việt Nam đã sản xuất thành công và thương mại hóa vaccine dịch tả lợn Châu Phi, trở thành quốc gia đầu tiên trên thế giới cấp phép lưu hành thương mại vaccine này. Ảnh: Hồng Thắm.

Thực tế, Việt Nam đã đạt được một số kết quả đáng chú ý trong nghiên cứu và sản xuất vaccine thú y. Nhiều loại vaccine quan trọng đã được nghiên cứu và sản xuất trong nước như vaccine cúm gia cầm, vaccine tai xanh trên lợn, vaccine lở mồm long móng và đặc biệt là việc phát triển thành công vaccine phòng bệnh dịch tả lợn Châu Phi – một trong những vaccine đầu tiên trên thế giới được thương mại hóa cho dịch bệnh này.

Tuy nhiên, để thúc đẩy sự phát triển của ngành hơn nữa trong thời gian tới, TS Hương cho rằng cần xây dựng hệ thống cơ chế chính sách đồng bộ nhằm khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nghiên cứu và đổi mới công nghệ. Trong đó, cần tăng cường các chính sách hỗ trợ nghiên cứu và phát triển, ưu đãi về thuế và tín dụng cho các hoạt động khoa học công nghệ.

Bên cạnh đó, cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý theo hướng minh bạch, ổn định và phù hợp với thông lệ quốc tế. Đồng thời cải cách thủ tục đăng ký và lưu hành sản phẩm nhằm rút ngắn thời gian đưa các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn.

“Nếu có chiến lược đầu tư phù hợp cùng với cơ chế chính sách thuận lợi, Việt Nam hoàn toàn có thể nâng cao năng lực tự chủ về vaccine và thuốc thú y, qua đó góp phần bảo đảm an toàn dịch bệnh và thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành chăn nuôi”, TS Nguyễn Thị Hương khẳng định.

Từ ngày 27 – 28/3, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức Hội nghị khoa học, công nghệ chăn nuôi và thú y toàn quốc lần thứ nhất với sự tham dự của lãnh đạo các cơ quan của Quốc hội, Văn phòng Chính phủ, các bộ, ngành liên quan; các cơ quan quản lý, các liên hiệp hội, hội, doanh nghiệp, các nhà khoa học ngành chăn nuôi và thú y trên phạm vi toàn quốc. Hội nghị diễn ra tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia, đường Phạm Hùng, phường Từ Liêm, TP Hà Nội.

Báo Nông nghiệp và Môi trường sẽ tường thuật trực tiếp sự kiện quan trọng này.

Hồng Thắm
Nguồn: nongnghiepmoitruong.vn
[searchandfilter id="2529"]