‘Hụt hơi’ với quy chuẩn nước thải: [Bài 2] Một số chỉ tiêu nghiêm ngặt hơn

Cần Thơ Quy chuẩn xử lý nước thải mới được kỳ vọng gỡ khó cho doanh nghiệp thủy sản, nhưng với doanh nghiệp nhỏ, áp lực đầu tư còn rất lớn để đáp ứng các yêu cầu.

Thay đổi cách tiếp cận trong quản lý nước thải

Hiện nay, trên địa bàn TP Cần Thơ có 9 khu công nghiệp (KCN) đang hoạt động, trong đó, có 8 khu đã đầu tư hệ thống xử lý nước thải tập trung. Các hệ thống này đều được thiết kế để xử lý nước thải đạt cột A theo Quy chuẩn QCVN 40:2011/BTNMT của Bộ Tài Nguyên và Môi trường trước đây, trước khi xả ra môi trường.

Từ ngày 28/2/2025, Bộ Tài nguyên và Môi trường (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) đã ban hành Thông tư số 06/2025, kèm theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp QCVN 40:2025/BTNMT. Quy chuẩn này chính thức áp dụng thay thế cho các quy chuẩn QCVN 40:2011/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp và QCVN 11-MT:2015/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp chế biến thủy sản.

Hiện nay quy định xử lý nước thải đang được áp dụng theo QCVN 40:2025/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp. Ảnh: Kim Anh.

Hiện nay quy định xử lý nước thải đang được áp dụng theo QCVN 40:2025/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp. Ảnh: Kim Anh.

Đáng chú ý, quy chuẩn mới đã thay đổi cách tiếp cận trong quản lý nước thải. Thay vì áp dụng chung một bộ tiêu chí cho mọi ngành nghề như trước đây, QCVN 40:2025/BTNMT xây dựng các nhóm thông số kiểm soát riêng theo từng lĩnh vực phát sinh nước thải, sát thực tế hơn. Theo đó, đối với hoạt động nuôi trồng thủy sản, nước thải chỉ phải kiểm soát các thông số ô nhiễm: COD (hoặc TOC), BOD5, TSS, pH, tổng coliform, tổng nitơ, tổng phốt pho.

Đối với nước thải trong hoạt động chế biến thủy sản phải kiểm soát các thông số ô nhiễm gồm: COD (hoặc TOC), BOD5, TSS, amoni, tổng nitơ, tổng phốt pho.

Đại diện một doanh nghiệp chế biến cá tra trên địa bàn TP Cần Thơ cho biết, nếu so sánh với các quy chuẩn trước đây, QCVN 40:2025/BTNMT không đơn thuần là siết chặt tất cả các thông số, mà chuyển sang quản lý theo đặc thù ngành nghề. Đồng thời, quy chuẩn cũng bổ sung các thông số đặc trưng của từng lĩnh vực, gắn với mức độ tác động đến nguồn tiếp nhận. Điển hình là chỉ tiêu dầu mỡ động thực vật ở mức ≤ 5mg/l đối với lĩnh vực thủy sản.

Mô hình nuôi thâm canh cá tra tại TP. Cần Thơ. Ảnh: Kim Anh.

Mô hình nuôi thâm canh cá tra tại TP. Cần Thơ. Ảnh: Kim Anh.

Tại Công ty cổ phần Thủy sản sạch Việt Nam (Cleanfood), Giám đốc Võ Văn Phục cho biết, trước đây vấn đề xử lý nước thải tạo ra nhiều khó khăn cho doanh nghiệp. “Nước thải phải đạt cột A, tốt hơn cả nước sông. Trong khi đó, vùng nuôi của doanh nghiệp là vùng sản xuất gần biển, không phải vùng nước sinh hoạt”, ông cho biết.

Với những thay đổi trong QCVN 40:2025/BTNMT, ông Phục cho rằng có phần thuận lợi hơn. Bởi thời gian qua doanh nghiệp đầu tư rất nhiều cho công tác xử lý môi trường – yếu tố quyết định giúp sản phẩm đạt được các chứng nhận quốc tế để xuất vào những thị trường lớn và giá trị cao.

Còn tại Công ty cổ phần Thủy sản NTSF đặt tại Khu công nghiệp Thốt Nốt (TP Cần Thơ), doanh nghiệp đã thực hiện đấu nối vào hệ thống xử lý nước thải tập trung của khu công nghiệp. Bên cạnh đó, ngay tại nhà máy cũng đã đầu tư hệ thống xử lý nước thải riêng để xử lý sơ bộ, trước khi chuyển vào hệ thống tập trung, tránh đội chi phí lên cao.

Theo tìm hiểu của phóng viên Báo Nông nghiệp và Môi trường tại một đơn vị cung cấp dịch vụ xử lý nước tập trung trong khu công nghiệp, đơn giá xử lý nước thải thông thường dao động từ 7.600 – 12.800 đồng/m3.

Trong trường hợp nước thải của doanh nghiệp đạt đúng chất lượng như cam kết trong báo cáo đánh giá tác động môi trường (DTM) hoặc cam kết bảo vệ môi trường, đơn vị xử lý sẽ lấy chỉ tiêu COD làm cơ sở tính phí, với mức khoảng 7.600 đồng/m3.

Ngược lại, nếu nước thải không đạt các thông số đã cam kết, mức phí xử lý sẽ tăng lên, dao động từ 8.800 – 12.800 đồng/m3. Điều này cũng đồng nghĩa, nếu doanh nghiệp muốn tiết giảm chi phí xử lý nước thải trong quá trình sản xuất, cần đầu tư hệ thống xử lý hiệu quả trước khi đấu nối vào hệ thống xử lý tập trung của khu công nghiệp.

Doanh nghiệp nhỏ nhiều áp lực

Mặc dù “dễ thở” hơn, nhưng nếu so sánh với QCVN 11-MT:2015/BTNMT, một số chỉ tiêu trong QCVN 40:2025/BTNMT lại nghiêm ngặt hơn rất nhiều so với trước đây, như: tổng nitơ phải đạt 20mg/l (trong QCVN 11-MT:2015/BTNMT, tổng nitơ chỉ cần đạt 30 mg/l); tổng phốt pho là 4mg/l (trong khi QCVN 11-MT:2015/BTNMT, tổng phốt pho chỉ cần đạt 10 mg/l).

Để đảm bảo yêu cầu xử lý nước thải theo quy định, đòi hỏi doanh nghiệp quy mô nhỏ phải đầu tư và cải tiến công nghệ. Ảnh: Kim Anh.

Để đảm bảo yêu cầu xử lý nước thải theo quy định, đòi hỏi doanh nghiệp quy mô nhỏ phải đầu tư và cải tiến công nghệ. Ảnh: Kim Anh.

Ghi nhận thực tế, hiện nay tại TP Cần Thơ, hầu hết các doanh nghiệp trong khu công nghiệp đã thực hiện đấu nối vào hệ thống xử lý nước thải tập trung và đảm bảo xử lý nước thải đạt cột B trước khi thải vào nguồn tiếp nhận. Đối với doanh nghiệp chưa đấu nối, nước thải phải được xử lý đạt cột A trước khi trực tiếp thải ra môi trường.

Đối chiếu với quy định tại QCVN 40:2025/BTNMT, phần lớn các doanh nghiệp chế biến thủy sản quy mô lớn trên địa bàn như: Nam Việt, Biển Đông, Cá Việt Nam, Caseamex, Thuận Hưng… đã đầu tư hệ thống xử lý sinh học hoàn chỉnh. Bởi đặc thù sản xuất hàng xuất khẩu, ngoài việc đáp ứng quy chuẩn môi trường của Việt Nam, các doanh nghiệp còn phải tuân thủ nhiều tiêu chuẩn quốc tế như: HACCP, ISO 14001, ASC, BAP… Vì vậy, yêu cầu về bảo vệ môi trường được ưu tiên ở mức cao.

Với nền tảng này, nhiều doanh nghiệp được đánh giá có khả năng đáp ứng quy chuẩn mới nếu vận hành đúng quy trình và tiếp tục duy trì hiệu quả hệ thống xử lý hiện có.

Khó khăn hiện nay chủ yếu tập trung vào các doanh nghiệp quy mô nhỏ hoặc các cơ sở chế biến theo mùa vụ. Phần lớn những đơn vị này vẫn đang sử dụng hệ thống xử lý cũ hoặc chưa nâng cấp để kiểm soát hiệu quả các chỉ tiêu tổng nitơ và phốt pho theo quy định mới.

Việc đưa ra lộ trình áp dụng quy chuẩn xử lý nước thải mới đến năm 2032 giúp doanh nghiệp có điều kiện hoàn thiện hệ thống. Ảnh: Kim Anh.

Việc đưa ra lộ trình áp dụng quy chuẩn xử lý nước thải mới đến năm 2032 giúp doanh nghiệp có điều kiện hoàn thiện hệ thống. Ảnh: Kim Anh.

Theo Chi cục Môi trường TP Cần Thơ, việc xử lý hai chất này thường đòi hỏi doanh nghiệp phải đầu tư bổ sung bể thiếu khí, bể hiếu khí, hệ thống tuần hoàn bùn cũng như sử dụng hóa chất kết tủa phốt pho… Đây là những hạng mục làm tăng chi phí đầu tư, vận hành, tạo áp lực không nhỏ đối với các doanh nghiệp có quy mô sản xuất nhỏ.

Tuy nhiên, với lộ trình áp dụng quy chuẩn mới đến năm 2032 dành cho các cơ sở nuôi trồng và nhà máy chế biến đã đi vào hoạt động trước đây, khoảng thời gian chuyển tiếp này là điều kiện cần thiết để doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa từng bước đầu tư, nâng cấp công nghệ, hoàn thiện hệ thống xử lý nước thải, đáp ứng các yêu cầu môi trường mới mà vẫn đảm bảo hiệu quả sản xuất, kinh doanh.

Theo một doanh nghiệp chế biến cá tra trên địa bàn TP Cần Thơ, để đáp ứng các chỉ tiêu mới buộc doanh nghiệp phải nâng cấp hệ thống xử lý nước thải và cần lộ trình đầu tư công nghệ phù hợp. Trong đó, nhu cầu về các giải pháp tái sử dụng, tuần hoàn nước sau xử lý và hỗ trợ kỹ thuật sẽ đóng vai trò quan trọng nhằm vừa đáp ứng quy chuẩn môi trường, vừa giảm chi phí vận hành.
Kim Anh
Nguồn: nongnghiepmoitruong.vn
[searchandfilter id="2529"]