Các quy chuẩn, tiêu chuẩn nước thải dù mới ban hành năm 2025 nhưng đã thể hiện một số bất cập.
Đây là ý kiến của GS.TS Trần Đức Hạ, Trưởng bộ môn Công nghệ nước Trường Đại học Công nghệ Đông Á, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Cấp thoát nước và Môi trường, khi trao đổi với phóng viên Báo Nông nghiệp và Môi trường.
“Cào bằng” quy chuẩn gây lãng phí tài nguyên
Theo GS.TS Trần Đức Hạ, hệ thống quy chuẩn nước thải của Việt Nam đang dựa trên hai quy định cốt lõi là QCVN 40:2025/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp (áp dụng cho tất cả các loại nước thải không phải là nước thải sinh hoạt) và QCVN 14:2025/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải sinh hoạt.
Song song với QCVN 14:2025/BTNMT, cơ quan quản lý cũng ban hành thêm QCVN 98:2025/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về công trình, thiết bị xử lý nước thải tại chỗ, trong đó có quy định chất lượng nước thải sinh hoạt sau xử lý lưu lượng dưới 20 m³/ngày.
Về cơ bản, hệ thống quy chuẩn mới năm 2025 là một bước tiến quan trọng giúp chuẩn hóa hành lang pháp lý về môi trường nước tại Việt Nam. Sự phân tách rõ ràng giữa nước thải công nghiệp và nước thải sinh hoạt được xử lý tập trung và xử lý phân tán giúp bảo vệ nguồn nước mặt đang ngày càng bị áp lực bởi quá trình đô thị hóa.
Thế nhưng, sự liên kết giữa các bộ quy chuẩn này đang có những bất cập.

GS.TS Trần Đức Hạ chỉ ra một số bất cập trong các quy chuẩn mới về nước thải. Ảnh: Tống Minh.
Hiện nay, nước thải y tế đang được xếp chung vào nhóm nước thải công nghiệp và áp dụng QCVN 40:2025/BTNMT. Trong khi đó, về bản chất, phần lớn nước thải bệnh viện và các cơ sở y tế có các thành phần ô nhiễm hữu cơ tương đồng với nước thải sinh hoạt, chỉ khác là nguồn nước này bị nhiễm trùng từ hoạt động điều trị hoặc phát tán từ bệnh nhân. Loại nước thải này cần được quản lý theo nhóm nước thải sinh hoạt nhưng có kiểm soát nghiêm ngặt hơn về vi sinh vật gây bệnh. Các yếu tố đặc thù như mầm bệnh, hóa chất thí nghiệm hay nguồn phóng xạ xạ trị đều đã có quy trình tách riêng để xử lý.
Bên cạnh đó, chỉ số tổng nitơ và nitơ amoni trong nước thải khi xả ra nguồn nước mặt (không sử dụng trực tiếp làm nguồn nước thô cho cấp nước sinh hoạt tập trung) cần phải được xem xét lại.
Đối với hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp, nếu đạt quy chuẩn tổng nitơ thì phải có quá trình xử lý bậc 3 và kinh phí đầu tư cũng như chi phí vận hành sẽ tăng lên gấp 1,5 lần. Điều đáng nói, quy trình xử lý này sử dụng hệ vi sinh vật để chuyển hóa nitơrat (mất điện năng để cung cấp oxy) trong nước thải thành khí N2 (khí trơ) bay lên trời. Rất ít loại vi khuẩn có thể cố định nitơ thành đạm thực vật. Trong khi đó, để phục vụ nông nghiệp, chúng ta lại phải tiêu tốn năng lượng và chi phí để sản xuất phân bón. Việc ép các chỉ số nitơ xuống quá thấp vừa gây tiêu tốn nguồn lực kinh tế của doanh nghiệp và các dự án đầu tư công, vừa lãng phí tài nguyên.
Dù Luật Bảo vệ môi trường, Luật Tài nguyên nước đều đã định hướng rõ ràng rằng, nước thải sau xử lý phải được coi là một nguồn tài nguyên và cần được tái sử dụng. Nhưng hiện tại, chúng ta hoàn toàn thiếu các chế tài, quy chuẩn cho việc này.

Ô nhiễm tại hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải là vấn đề nan giải nhiều năm qua. Ảnh: Minh Khang.
Một vấn đề nữa đặt ra, hệ thống QCVN hiện nay được áp dụng “cào bằng” cho cả nước mà chưa tính đến “sức khỏe” của dòng sông. Thực tế, khả năng tự làm sạch của sông Hồng hoàn toàn khác với một sông Nhuệ đang nghẹt thở; và càng không thể đánh đồng với hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải hiện chỉ còn chức năng chủ yếu là tiếp nhận và tiêu thoát nước mưa, nước thải.
Nghịch lý này đang đẩy TP. Hà Nội vào thế khó xử khi đưa các nhà máy xử lý nước thải khu vực Long Biên, Gia Lâm đi vào hoạt động. Với công suất xử lý lên tới 140.000 m³/ngày, dòng nước sau xử lý này khi đổ vào hệ thống Bắc Hưng Hải sẽ phải áp dụng tiêu chuẩn nào? Nếu ép dòng nước xả thải phải sạch như nước mặt loại B (tức là nước có thể dùng cho trồng trọt, chăn nuôi), nhà nước và doanh nghiệp sẽ phải đổ vào đó lượng tiền khổng lồ để nâng cấp công nghệ xử lý nitơ, xử lý phốt pho cực kỳ phức tạp.
Theo lý thuyết, cả nước mới thu gom được khoảng 1,8 triệu m3 nước thải/ngày và công suất xử lý đạt khoảng 1,2-1,5 triệu m3/ngày. Con số này chỉ chiếm chưa đến 10% trong tổng số gần 18 triệu m³ nước thải sinh hoạt phát sinh mỗi ngày trong thực tế. Do đó, sông hồ ô nhiễm là điều hiển nhiên. GS.TS Trần Đức Hạ |
Các giải pháp đột phá để thu hút nguồn lực xã hội hóaDù các quy chuẩn này mới được ban hành vào năm 2025, GS.TS Trần Đức Hạ kiến nghị cơ quan quản lý cần rà soát, điều chỉnh hệ thống quy chuẩn theo một tư duy tổng hợp, đồng bộ và thực tế hơn.
Để thu hút nguồn lực xã hội hóa, GS.TS Trần Đức Hạ cho rằng Nhà nước bắt buộc phải ban hành lộ trình rõ ràng về giá dịch vụ để thu hút dòng vốn tư nhân, bởi nguồn lực đầu tư công có hạn. Trong giai đoạn đầu, Nhà nước cần áp dụng các chính sách khuyến khích như miễn giảm thuế nhập khẩu thiết bị, hỗ trợ công nghệ xử lý chất thải hiệu quả và tiên tiến… Đồng thời, cũng cần triển khai các giải pháp mang tính đột phá.

Nhà nước cần có thêm các chính sách khuyến khích đầu tư tư nhân vào lĩnh vực xử lý nước thải. Ảnh minh họa.
Thứ nhất là khơi thông kinh tế tuần hoàn và cơ chế tái sử dụng nước thải. Để giảm chi phí vận hành cho nhà đầu tư, cần cho phép họ coi nước thải sau xử lý là tài nguyên để bán lại. Ví dụ, nước thải xử lý đạt chuẩn có thể dùng để tưới tiêu hoặc rửa đường, chăm sóc cảnh quan đô thị. Đối với các hồ đô thị – vốn đa chức năng từ điều tiết nước mưa, dự trữ nước chữa cháy, bổ cập nước ngầm đến tạo cảnh quan – thì cần đánh giá khả năng tự làm sạch để cho phép các nhà máy xả nước thải sau xử lý đạt chuẩn vào hồ, tạo chu trình tuần hoàn nước khép kín và mang lại hiệu quả kinh tế…
Việc đưa các thông số hữu cơ, dinh dưỡng (đặc biệt là nitơ) về mức khả thi giúp doanh nghiệp vừa kiểm soát được ô nhiễm vừa có thể tái sử dụng nước thải. Không thể bắt nước thải tái sử dụng phải đạt chất lượng khắt khe như nước sông, nước hồ tự nhiên – đó là tư duy phi thực tế. Cần ban hành song song quy chuẩn xả thải và quy chuẩn tái sử dụng nước để tối ưu hóa nguồn tài nguyên nước.
Bên cạnh đó, cần cho phép áp dụng các giới hạn xả thải linh hoạt, phù hợp với năng lực đầu tư công nghệ và kế hoạch khôi phục dòng chảy trong tự nhiên, sức chịu tải của từng lưu vực sông cụ thể thay vì cào bằng trên cả nước.
Thứ hai là gắn trách nhiệm với các nhà đầu tư bất động sản lớn đối với đầu tư xây dựng hệ thống thoát nước mưa, thu gom và xử lý nước thải sinh hoạt của đô thị và khu dân cư. Hiện nay, các tập đoàn bất động sản lớn hầu như đang đứng ngoài bài toán hạ tầng môi trường của địa phương. Khi triển khai dự án, họ thường chỉ thu hồi đất nông nghiệp, làm sạch và khoanh vùng xử lý nước thải cục bộ cho riêng khu đô thị. Theo GS.TS Trần Đức Hạ, cần ban hành cơ chế để các nhà đầu tư bất động sản khi vào địa phương phải đóng góp xây dựng, chia sẻ hoặc mở rộng công suất hạ tầng thu gom, xử lý nước thải cho cả khu vực dân cư vùng đệm xung quanh dự án của họ.
Thứ ba, liên kết thống nhất tổ chức cấp và thoát nước. Bài học thành công của các quốc gia tiên tiến như Pháp hoặc mô hình thực tế trong nước của Công ty Cổ phần Nước – Môi trường Bình Dương (BIWASE). Tại đây, họ tổ chức theo mô hình tổng công ty liên ngành: vừa sản xuất nước cấp, vừa quản lý thoát nước, xử lý nước thải và xử lý chất thải rắn. Lợi nhuận từ mảng nước cấp do kinh doanh hiệu quả sẽ được hạch toán bù chéo, “nuôi sống” mảng vận hành xử lý nước thải và môi trường.
| “Một dòng nước đơn độc đạt chuẩn cũng không thể cứu vãn ngay được cả một hệ thống sông vốn đã ô nhiễm nghiêm trọng từ nhiều nguồn khác. Vì vậy cũng cần xem xét xây dựng các quy chuẩn xả thải phù hợp với các lưu vực sông”, GS.TS Trần Đức Hạ nhấn mạnh. |
Nguồn: nongnghiepmoitruong.vn
