Ngành Nông nghiệp và Môi trường bứt phá nhiệm kỳ mới với 3 đột phá chiến lược

Ngành Nông nghiệp và Môi trường đưa ra lộ trình bứt phá toàn diện, lấy cải cách thể chế, chuyển đổi số và phát triển nông nghiệp sinh thái làm động lực tăng trưởng.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa ban hành Quyết định số 1806/QĐ-BNNMT về Kế hoạch thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm của Chính phủ nhiệm kỳ 2026-2031 trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành Kế hoạch triển khai nhiệm vụ trọng tâm nhiệm kỳ 2026-2031, đặt mục tiêu tăng trưởng xanh, hoàn thiện thể chế, phát triển khoa học công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh ngành. Ảnh: VGP.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành Kế hoạch triển khai nhiệm vụ trọng tâm nhiệm kỳ 2026-2031, đặt mục tiêu tăng trưởng xanh, hoàn thiện thể chế, phát triển khoa học công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh ngành. Ảnh: VGP.

Định hình mục tiêu tăng trưởng xanh, bền vững và toàn diện

Nhiệm kỳ 2026-2031 được xác định là giai đoạn mở đầu cho tiến trình hiện thực hóa Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, đồng thời đặt nền móng cho mục tiêu tăng trưởng “2 con số” của nền kinh tế. Trong bối cảnh kinh tế thế giới biến động phức tạp, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã ban hành Kế hoạch hành động với định hướng xuyên suốt là “kiến tạo môi trường phát triển mới, mở ra không gian tăng trưởng mới, tạo động lực tăng trưởng mới”.

Kế hoạch xác định rõ mục tiêu cốt lõi: phát triển nông nghiệp theo hướng sinh thái, xanh, giảm phát thải, bảo đảm an ninh lương thực quốc gia; đồng thời quản lý hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu. Đây không chỉ là mục tiêu ngành mà còn là đóng góp quan trọng cho ổn định kinh tế vĩ mô và phát triển bền vững đất nước.

Các chỉ tiêu cụ thể được đặt ra mang tính toàn diện, bao trùm cả kinh tế, xã hội và môi trường. Trong đó, tăng trưởng GDP ngành nông, lâm, thủy sản đạt bình quân 3,6-4%/năm; kim ngạch xuất khẩu tăng 10-12%/năm; thu nhập cư dân nông thôn tăng gấp 2,5-3 lần so với năm 2020. Đặc biệt, Kế hoạch nhấn mạnh các chỉ tiêu môi trường như giảm phát thải khí nhà kính 8-9%, nâng tỷ lệ xử lý nước thải lưu vực sông lên 65-70%, duy trì độ che phủ rừng ổn định trên 42%.

Ngành Nông nghiệp và Môi trường đặt mục tiêu duy trì độ che phủ rừng ổn định trên 42%. Ảnh: NNMT.

Ngành Nông nghiệp và Môi trường đặt mục tiêu duy trì độ che phủ rừng ổn định trên 42%. Ảnh: NNMT.

Không chỉ dừng ở tăng trưởng, Kế hoạch còn hướng tới nâng cao chất lượng sống của người dân nông thôn, giảm nghèo bền vững, mở rộng tiếp cận nước sạch và thúc đẩy xây dựng nông thôn mới với mục tiêu 65% số xã đạt chuẩn vào năm 2030.

Đột phá thể chế, hoàn thiện pháp luật và quy hoạch phát triển

Một trong những điểm nhấn quan trọng của Kế hoạch là cải cách mạnh mẽ thể chế, lấy hoàn thiện hệ thống pháp luật làm đột phá chiến lược. Bộ Nông nghiệp và Môi trường xác định sẽ triển khai đồng bộ 17 luật trong lĩnh vực, đồng thời xây dựng, sửa đổi nhiều luật quan trọng như Luật Đất đai, Luật Bảo vệ môi trường, Luật Tài nguyên nước, Luật Thủy sản, Luật Lâm nghiệp, Luật Biến đổi khí hậu…

Điểm đáng chú ý là cách tiếp cận đổi mới trong quản lý nhà nước: chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm, tăng cường phân cấp, phân quyền, giảm chi phí tuân thủ cho người dân và doanh nghiệp. Nguyên tắc “một việc – một cơ quan- một người chịu trách nhiệm” nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị.

Song song với đó, Kế hoạch tập trung hoàn thiện các cơ chế chính sách để khơi thông nguồn lực, đặc biệt là đất đai, vốn và lao động. Việc tích tụ, tập trung đất đai để phát triển nông nghiệp quy mô lớn, công nghệ cao được coi là giải pháp then chốt nhằm nâng cao năng suất và giá trị gia tăng.

Về quy hoạch, Bộ đặt trọng tâm điều chỉnh các quy hoạch lớn như quy hoạch sử dụng đất quốc gia, quy hoạch lâm nghiệp, quy hoạch bảo vệ môi trường, chiến lược tài nguyên nước… theo hướng tích hợp, đồng bộ, gắn với thực tiễn phát triển và biến đổi khí hậu. Đây là cơ sở để phân bổ nguồn lực hiệu quả, tạo không gian phát triển mới cho ngành.

Đặc biệt, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh được xác định là nhiệm vụ xuyên suốt. Mục tiêu cụ thể là cắt giảm tối thiểu 30% ngành nghề kinh doanh có điều kiện, 50% thời gian và chi phí thủ tục hành chính, đồng thời đẩy mạnh thực hiện dịch vụ công trực tuyến, chuyển đổi số trong toàn bộ quy trình quản lý.

Tái cơ cấu ngành, thúc đẩy khoa học công nghệ và mở rộng thị trường

Kế hoạch nhấn mạnh việc xác lập mô hình tăng trưởng mới cho ngành Nông nghiệp và Môi trường, trong đó tái cơ cấu ngành theo hướng thực chất, hiệu quả và tích hợp đa giá trị. Trọng tâm là chuyển đổi từ sản xuất nông sản giá trị thấp sang sản phẩm giá trị cao, phát triển vùng nguyên liệu lớn, bền vững, thích ứng biến đổi khí hậu.

Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là nền tảng của mô hình tăng trưởng mới. Ảnh: NNMT.

Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là nền tảng của mô hình tăng trưởng mới. Ảnh: NNMT.

Nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp hữu cơ, tuần hoàn và ứng dụng công nghệ cao sẽ trở thành xu hướng chủ đạo. Các chuỗi liên kết từ sản xuất – chế biến – tiêu thụ được thúc đẩy mạnh mẽ, gắn với phát triển logistics, chế biến sâu và xây dựng thương hiệu nông sản.

Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là nền tảng của mô hình tăng trưởng mới. Bộ đặt mục tiêu xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu ngành đồng bộ với cơ sở dữ liệu quốc gia, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, Internet vạn vật, dữ liệu lớn trong quản lý tài nguyên, sản xuất nông nghiệp và giám sát môi trường.

Đặc biệt, công nghệ viễn thám được nhấn mạnh như một công cụ quan trọng trong giám sát, dự báo và quản lý tài nguyên. Việc phát triển dữ liệu viễn thám như một “tài sản số” sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Bên cạnh đó, Bộ sẽ triển khai các cơ chế thử nghiệm (sandbox) cho các mô hình đổi mới sáng tạo, thúc đẩy liên kết giữa nhà nước – nhà khoa học – doanh nghiệp, hình thành các trung tâm đổi mới sáng tạo và vườn ươm công nghệ trong ngành.

Ở góc độ thị trường, Kế hoạch đặt mục tiêu mở rộng xuất khẩu, đa dạng hóa thị trường và sản phẩm, tận dụng hiệu quả các hiệp định thương mại tự do. Các thị trường lớn như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc tiếp tục được củng cố, đồng thời mở rộng sang các thị trường tiềm năng như Trung Đông, châu Phi, thị trường Halal.

Thị trường trong nước cũng được chú trọng với các giải pháp ổn định cung cầu, kiểm soát giá cả, thúc đẩy thương mại điện tử và tiêu thụ nông sản nội địa. Việc bảo đảm an ninh lương thực trong mọi tình huống được xác định là nhiệm vụ xuyên suốt, mang tính chiến lược.

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và tổ chức thực thi hiệu quả

Bên cạnh các giải pháp về thể chế và kinh tế, Kế hoạch đặt trọng tâm quan trọng cho phát triển nguồn nhân lực. Mục tiêu là xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý có năng lực, bản lĩnh; phát triển lực lượng nông dân chuyên nghiệp, có kỹ năng số và khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.

Các chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong nông thôn sẽ được triển khai đồng bộ. Đồng thời, cơ chế thu hút và trọng dụng nhân tài, chuyên gia đầu ngành cũng được xây dựng nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành.

Về tổ chức thực hiện, Kế hoạch phân công rõ trách nhiệm cho từng đơn vị, địa phương, gắn với cơ chế giám sát, đánh giá định kỳ. Các đơn vị phải chủ động triển khai, phối hợp xử lý vướng mắc và báo cáo tiến độ thực hiện, bảo đảm tính đồng bộ và hiệu quả.

Nguồn: nongnghiepmoitruong.vn

[searchandfilter id="2529"]