Là nguồn protein thực vật hoàn chỉnh, lành mạnh và phát thải thấp, đậu nành ngày càng được chú trọng trong dinh dưỡng và có cơ hội phát triển trở lại.
Nguồn protein thực vật hoàn chỉnh
Tại Hội thảo khoa học với chủ đề “Vai trò dinh dưỡng từ đậu nành và các loại hạt đối với sức khỏe và phòng chống bệnh không lây nhiễm” do Viện Dinh dưỡng phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu Ứng dụng Đậu nành Vinasoy (VSAC) tổ chức ngày 26/6 tại TP.HCM, các thông tin cho thấy, chế độ ăn giàu thực vật, sẽ góp phần quan trọng vào phòng bệnh chủ động và sống khỏe của người Việt.

Đậu nành được coi là nguồn protein thực vật hoàn chỉnh. Ảnh: Vinasoy.
Theo PGS.TS Trương Tuyết Mai, Phó Viện trưởng Viện Dinh dưỡng, khoa học dinh dưỡng hiện đại không chỉ quan tâm đến việc ăn đủ chất, mà ngày càng chú trọng đến chất lượng thực phẩm, tác động sức khỏe dài hạn và tính bền vững của hệ thống thực phẩm.
Một chế độ ăn giàu thực phẩm nguồn gốc thực vật cân bằng dinh dưỡng không chỉ giúp kiểm soát rối loạn lipid máu và đường huyết mà còn cải thiện sức khỏe hệ vi sinh đường ruột, góp phần kiểm soát bệnh mạn tính không lây một cách tổng thể.
Trong chế độ ăn ăn giàu thực phẩm nguồn gốc thực vật, các loại đậu, hạt, trong đó có đậu nành, được đánh giá cao.
TS Nguyễn Song Tú, Viện Dinh dưỡng, cho biết, đậu nành là một trong số ít nguồn protein thực vật hoàn chỉnh với chỉ số PDCAAS = 1.0, tương đương protein động vật, chứa đầy đủ 9 axit amin thiết yếu. Đậu nành và các loại hạt chứa nhiều hoạt chất sinh học có giá trị như isoflavone, lecithin và chất xơ; đồng thời còn cung cấp nguồn chất béo chưa bão hòa và các vi chất dinh dưỡng thiết yếu, mang lại lợi ích lớn cho sức khỏe tim mạch.

Các diễn giả tại Hội thảo khoa học “Vai trò dinh dưỡng từ đậu nành và các loại hạt đối với sức khỏe và phòng chống bệnh không lây nhiễm”. Ảnh: Viện Dinh dưỡng.
Một trong những thông tin rất đáng chú ý tại hội thảo là những phát hiện về thành phần prebiotic trong đậu nành và yến mạch – một hướng nghiên cứu đang được quan tâm hàng đầu hiện nay. Prebiotic là các hợp chất không bị tiêu hóa ở dạ dày và ruột non, được lên men chọn lọc tại ruột già bởi hệ vi sinh vật đường ruột, mang lại lợi ích sức khỏe cho vật chủ.
Theo PGS.TS Đặng Minh Nhật (Đại học Bách khoa Đà Nẵng), nghiên cứu thực nghiệm đánh giá hoạt tính prebiotic trên mẫu sữa đậu nành Fami Green Soy không bổ sung đường và dịch yến mạch nghiền giữ nguyên xơ (sản xuất bằng công nghệ nghiền nguyên hạt Whole Soya), cho thấy các mẫu sản phẩm này có chỉ số Prebiotic Activity Score (PAS) dương tính cao (0.9–2.1), đặc biệt có lợi trong việc nuôi dưỡng lợi khuẩn (Lactobacillus, Bifidobacterium) và ức chế vi khuẩn gây bệnh (E. coli).
Công nghệ nghiền nguyên hạt mà PGS.TS Đặng Minh Nhật nhắc tới, hiện đang được áp dụng trong các nhà máy của Công ty Sữa đậu nành Việt Nam (Vinasoy), với nhiều ưu điểm vượt trội.
TS. Lê Hoàng Duy (VSAC) chia sẻ “Công nghệ nghiền nguyên hạt không chỉ đóng vai trò then chốt trong việc giữ trọn giá trị dinh dưỡng của đạm thực vật, chất béo không no nhiều nối đôi, các nguyên tố vi lượng, mà còn bảo toàn chất xơ, các hợp chất hoạt tính sinh học như prebiotic và isoflavone, đồng thời loại bỏ các yếu tố kháng dinh dưỡng, tạo ra sản phẩm vừa an toàn, tiện lợi vừa giữ nguyên giá trị tự nhiên”.
Hội thảo diễn ra trong bối cảnh Luật Phòng bệnh số 114/2025/QH15 được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10 ngày 10/12/2025, chính thức có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, đánh dấu sự chuyển dịch chiến lược của hệ thống y tế từ tư duy điều trị sang phòng bệnh chủ động.

PGS.TS Trần Thanh Dương, Viện trưởng Viện Dinh dưỡng, phát biểu khai mạc hội thảo. Ảnh: Sơn Trang.
Phát biểu khai mạc hội thảo, PGS.TS Trần Thanh Dương, Viện trưởng Viện Dinh dưỡng, nhấn mạnh “Luật Phòng bệnh đánh dấu bước chuyển quan trọng từ tư duy chữa bệnh sang phòng bệnh chủ động. Trong tiến trình đó, dinh dưỡng đóng vai trò nền tảng bởi đây là yếu tố có thể tác động sớm, rộng và bền vững nhất đến sức khỏe cộng đồng”.
Làm gì để đậu nành phát triển trở lại?
GS.VS.TSKH Trần Đình Long, Chủ tịch Hội Giống cây trồng Việt Nam, đánh giá rất cao vai trò của đậu nành. Trong mấy chục năm qua, ông luôn gọi đậu nành là “vàng mọc trên đất” bởi đây là cây trồng chiến lược vừa giàu giá trị dinh dưỡng, vừa có khả năng cố định đạm sinh học (sau mỗi vụ trồng đậu nành, cây đậu nành để lại 30 – 60 kg N/ha, tương đương 65-130 kg phân ure/ha). Nhờ cơ chế tự nhiên này, cây đậu nành đóng vai trò cốt lõi trong cải tạo đất, giảm phát thải và tạo nguồn nguyên liệu bền vững.
Tuy được đánh giá rất cao, nhưng trong thời gian qua, diện tích đậu nành ở Việt Nam đã giảm rất mạnh, từ khoảng 200 nghìn ha vào năm 2010, đến 2025 chỉ còn trên 26,3 nghìn ha. Nguyên nhân chính là do giá trị kinh tế mà cây đậu nành mang lại cho nông dân hiện không cao, trong đó có những vấn đề về giống.
Dù Việt Nam đã có những thành tựu trong chọn tạo giống đậu nành với những giống tốt như ĐT22, ĐT 26, Vinasoy 02-NS…, nhưng theo GS.VS.TSKH Trần Đình Long, vẫn còn nhiều điểm hạn chế như chưa có nhiều giống đạt >4 tấn/ha ổn định như thế giới; thiếu giống chuyên hóa (thực phẩm, chế biến, protein cao).

GS.VS.TSKH Trần Đình Long đánh giá cao vai trò của cây đậu nành. Ảnh: Sơn Trang.
Việc ứng dụng công nghệ sinh học (marker, chỉnh sửa gen) còn hạn chế. Thiếu bộ giống thích ứng với biến đổi khí hậu, giống làm thức ăn chăn nuôi. Thiếu giống có chất lượng protein cao. Hàm lượng oleic acid trong đậu nành Việt Nam còn thấp (<30%), trong khi nhu cầu thị trường cần giống đạt trên 80%.
GS.VS.TSKH Trần Đình Long đánh giá, trong chiến lược dinh dưỡng quốc gia và xu hướng tiêu dùng xanh, đậu nành được xem là cây trồng tiềm năng để phát triển các sản phẩm dinh dưỡng thực vật có giá trị gia tăng cao.
Bên cạnh đó, đậu nành có hiệu quả chuyển hóa protein trên đơn vị diện tích cao hơn nhiều so với chăn nuôi gia súc. Do đó, việc sử dụng protein thực vật từ đậu nành giúp giảm áp lực lên tài nguyên đất, nước và năng lượng, đồng thời giảm phát thải khí nhà kính trong hệ thống thực phẩm.
Chính vì vậy, phát triển vùng nguyên liệu đậu nành chất lượng cao có ý nghĩa đặc biệt trong việc chủ động nguồn protein thực vật; giảm nhập khẩu nguyên liệu thức ăn chăn nuôi, phát triển thực phẩm dinh dưỡng nội địa, tăng thu nhập cho nông dân, phát triển nông nghiệp hữu cơ và tuần hoàn.
Theo GS.VS.TSKH Trần Đình Long, các giải pháp đột phá để phục hồi, phát triển diện tích đậu nành cần tập trung vào giống, canh tác và chế biến sâu. Theo đó, cần đẩy mạnh nghiên cứu các giống đậu nành có năng suất > 3 tấn/ha, protein > 40% và oleic acid > 80%.
Về canh tác, cần phát triển theo 2 hướng. Thứ nhất là canh tác hữu cơ kết hợp với cơ giới hóa. Thứ 2 là tiến hành trồng luân canh/xen canh như trồng đậu nành trong vụ đông ở ĐBSH và vụ xuân hè trên đất lúa ở ĐBSCL.
Đặc biệt, cần đẩy mạnh chế biến sâu các sản phẩm giá trị cao từ đậu nành như sữa, natto, isoflavone, để nâng cao giá trị cho cây đậu nành Việt Nam. Nếu đẩy mạnh sản xuất sữa từ đậu nành, tổng giá trị của mỗi ha đậu nành có thể lên tới 400 triệu đồng. Còn nếu sản xuất isoflavone, tổng giá trị lên tới hàng tỷ đồng.
Nguồn: nongnghiepmoitruong.vn
