GDP quý III tăng gần 10%, 9 tháng tăng 9%

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý III/2026 ước tăng 9,95% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức tăng 8,15% của quý I và 8,81% của quý II. Tính chung 9 tháng, GDP tăng 9,01%, trong đó công nghiệp và xây dựng tiếp tục là động lực tăng trưởng chủ yếu.

Cục thống kê, Bộ Tài chính đang tổ chức họp báo công bố tình hình kinh tế xã hội 9 tháng đầu năm 2026. Theo công bố, trong quý III, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,21%, đóng góp 5,14% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế. Khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 12,50%, đóng góp 51,57%, trong khi khu vực dịch vụ tăng 9,54%, đóng góp 43,29%.

Xét về sử dụng GDP, tiêu dùng cuối cùng quý III tăng 8,96% so với cùng kỳ năm trước; tích lũy tài sản tăng 21,39%. Xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 23,27%, còn nhập khẩu tăng 28,75%.

GDP quý III tăng gần 10%, kinh tế 9 tháng tăng 9,01%.

Công nghiệp và xây dựng đóng góp hơn một nửa mức tăng trưởng

Tính chung 9 tháng năm 2026, GDP tăng 9,01%. Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,02%, đóng góp 5,35%; công nghiệp và xây dựng tăng 11,21%, đóng góp 49,62%; khu vực dịch vụ tăng 8,69%, đóng góp 45,03%.

Trong nông, lâm nghiệp và thủy sản, năng suất và sản lượng lúa, cây ăn quả, chăn nuôi, thủy sản tiếp tục tăng, đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Giá trị tăng thêm của khu vực này tăng 4,02%.

Riêng ngành nông nghiệp tăng 3,72%, đóng góp 3,60% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của nền kinh tế. Ngành lâm nghiệp tăng 3,99%, đóng góp 0,25%, trong khi thủy sản tăng 4,99%, đóng góp 1,50%.

Khu vực công nghiệp và xây dựng tiếp tục duy trì tốc độ tăng khá khi các động lực tăng trưởng được mở rộng. Một số dự án quy mô lớn đi vào hoạt động, đơn hàng xuất khẩu phục hồi và tiến độ đầu tư công được đẩy mạnh, qua đó tạo hiệu ứng lan tỏa đến sản xuất và xây dựng.

Giá trị tăng thêm toàn ngành công nghiệp trong 9 tháng tăng 11,02% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp 41,39% vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của nền kinh tế. Trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,36%, đóng góp 33,85% và tiếp tục là động lực chủ yếu. Ngành xây dựng tăng 12,22%, đóng góp 8,23%.

Ở khu vực dịch vụ, hoạt động thương mại, vận tải, du lịch và các dịch vụ phục vụ đời sống tiếp tục tăng trưởng tích cực. Nhu cầu tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ và du lịch trong nước duy trì ở mức cao, góp phần quan trọng vào tăng trưởng chung.

Giá trị tăng thêm khu vực dịch vụ 9 tháng tăng 8,69%. Một số ngành có mức tăng và đóng góp đáng kể gồm vận tải, kho bãi tăng 11,03%, đóng góp 7,21%; bán buôn và bán lẻ tăng 9,85%, đóng góp 11,99%; tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 9,45%, đóng góp 5,27%; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 8,83%, đóng góp 2,69%.

12 địa phương tăng trưởng từ 10% trở lên

Về cơ cấu nền kinh tế 9 tháng năm 2026, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 10,65%; công nghiệp và xây dựng chiếm 38,35%; dịch vụ chiếm 42,97%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 8,03%.

12 địa phương tăng trưởng từ 10% trở lên.

So với cùng kỳ năm 2025, tỷ trọng khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm từ 11,33% xuống 10,65%; công nghiệp và xây dựng tăng từ 37,47% lên 38,35%; dịch vụ giảm nhẹ từ 43,05% xuống 42,97%, còn thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm giảm từ 8,15% xuống 8,03%.

Xét về sử dụng GDP, tiêu dùng cuối cùng 9 tháng tăng 8,51% so với cùng kỳ năm trước; tích lũy tài sản tăng 17,88%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 21,29%, trong khi nhập khẩu tăng 27,19%.

Ở cấp địa phương, 12/34 tỉnh, thành phố đạt mức tăng trưởng GRDP từ 10% trở lên trong 9 tháng. Quảng Ninh dẫn đầu với mức tăng 12,54%, tiếp đến là Hà Tĩnh 12,36%, Hải Phòng 12,08%, Bắc Ninh 11,81% và Ninh Bình 11,31%.

Ở chiều ngược lại, một số địa phương ghi nhận tốc độ tăng GRDP thấp hơn, như Sơn La 5,59%, Vĩnh Long 7,32%, Cà Mau 7,37% và Đồng Tháp 7,44%. Nguyên nhân chủ yếu được xác định là sản xuất điện sụt giảm và ngành nông nghiệp chiếm tỷ trọng khá cao trong cơ cấu kinh tế tại các địa phương này.

Nhìn chung, các địa phương có tốc độ tăng trưởng cao tập trung chủ yếu ở những nơi có nền tảng công nghiệp, quy mô sản xuất chế biến, chế tạo lớn, đồng thời được thúc đẩy bởi đầu tư, xuất khẩu và sự phát triển của khu vực dịch vụ.

Cơ quan thống kê cũng lưu ý, số liệu GDP quý II/2026 đã được cập nhật so với số ước tính trước đó. Giá trị tăng thêm sơ bộ của khu vực công nghiệp và xây dựng quý II tăng thêm 0,82 điểm phần trăm, khiến mức tăng 6 tháng tăng 0,65 điểm phần trăm. Đây là khu vực có mức thay đổi lớn nhất và đóng góp chủ yếu vào sự điều chỉnh GDP.

Sự thay đổi này chủ yếu đến từ việc cập nhật đầy đủ hơn kết quả sản xuất thực tế, trong đó ngành xây dựng tăng đáng kể nhờ bổ sung khối lượng thi công thực tế từ các dự án hạ tầng và bất động sản; khai khoáng tăng do cập nhật sản lượng khai thác; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng do bổ sung kết quả hoạt động của các doanh nghiệp FDI quy mô lớn.

Ở khu vực dịch vụ, giá trị tăng thêm sơ bộ quý II tăng 0,21 điểm phần trăm, làm mức tăng 6 tháng tăng 0,16 điểm phần trăm. Mức điều chỉnh chủ yếu đến từ kết quả thực tế cao hơn số ước tính tại các ngành vận tải, tài chính – ngân hàng, lưu trú và ăn uống, bất động sản và một số ngành dịch vụ. Ngược lại, thông tin và truyền thông, hành chính và dịch vụ hỗ trợ, bán buôn và bán lẻ có mức điều chỉnh giảm.

Kỳ Thư

Nguồn: vietnamfinance.vn

[searchandfilter id="2529"]