Theo Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Minh Hằng, Việt Nam đang bước vào thời kỳ chuyển mình mạnh mẽ cả về tư duy, hành động và khát vọng, là sự tiếp nối hành trình gần 40 năm đổi mới để “vươn mình, bứt phá và phát triển vượt bậc”. Thứ trưởng cho rằng để đáp ứng yêu cầu của tình hình mới, ngoại giao kinh tế cần có sự chuyển mình mạnh mẽ.
Kinh tế thế giới và khu vực năm năm qua trải qua giai đoạn bước ngoặt với những chuyển đổi căn bản, sâu sắc. Quá trình tái cấu trúc nền kinh tế, tái công nghiệp hóa, tái cơ cấu sản xuất và dịch chuyển chuỗi cung ứng, cạnh tranh về công nghệ diễn ra mạnh mẽ. Điều này mang đến cả cơ hội và thách thức cho các nền kinh tế, nhất là các nền kinh tế đang phát triển.
Trong bối cảnh đó, Việt Nam cũng đang bước vào thời kỳ đổi mới, phát triển mạnh mẽ với tầm nhìn chiến lược mới, vị thế và sức mạnh nền kinh tế được nâng cao, song cũng đối mặt với những rủi ro, thách thức ngày càng nhiều.

Tình hình đó đặt ra nhiều yêu cầu mới trong triển khai công tác Ngoại giao kinh tế (NGKT) góp phần phục vụ các mục tiêu phát triển của đất nước; trong đó, việc kịp thời nắm bắt, tận dụng thời cơ sẽ mang đến cơ hội thiết lập vị trí cao hơn trong trật tự kinh tế thế giới đang định hình.
Ngoại giao kinh tế là động lực quan trọng phát triển đất nước nhanh, bền vững
Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Minh Hằng cho hay ngay sau Đại hội XIII, Đảng bộ Bộ Ngoại giao đã cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng, kiến nghị ban hành Chỉ thị 15 của Ban Bí thư và Nghị quyết 21 về Chương trình hành động của Chính phủ, tạo nền tảng chính trị và pháp lý vững chắc, khẳng định vị thế mới của ngoại giao kinh tế: là một nhiệm vụ cơ bản, trung tâm của ngoại giao Việt Nam; một động lực quan trọng để phát triển đất nước nhanh, bền vững.
Những nền tảng vững chắc đó đã mở đường cho công tác NGKT được triển khai bài bản, toàn diện trên tất cả các trụ cột đối ngoại, từ đối ngoại cấp cao và các cấp đến ngoại giao chuyên ngành, trên tất cả các lĩnh vực, các thị trường; cả song phương và đa phương, mang lại nhiều kết quả thực chất, có ý nghĩa, đóng góp quan trọng vào những thành tựu to lớn chung của đối ngoại đối với phát triển kinh tế xã hội đất nước, được Đảng, Nhà nước ghi nhận, đánh giá cao. Nổi bật là:
Thứ nhất, nỗ lực làm sâu sắc thêm quan hệ của nước ta với các nước, đặc biệt quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư. NGKT thực sự trở thành nội hàm then chốt trong tất cả các hoạt động đối ngoại, đặc biệt đối ngoại cấp cao. Trong nội hàm nâng cấp, nâng tầm quan hệ với các đối tác, kinh tế là ưu tiên hàng đầu và đạt những kết quả rất cụ thể, thiết thực, tạo ra thời cơ mới cho phát triển đất nước.
Thứ hai, khi đại dịch Covid 19 bùng phát, NGKT đã nhanh chóng tập trung mũi nhọn vào ngoại giao vaccine. “Chiến dịch” ngoại giao vaccine trong năm 2021 đã đóng góp quyết định vào thực hiện thành công chiến lược vaccine, tự hào là nước “đi sau về trước”. Đây là điều kiện tiên quyết để nước ta trở thành một trong những nước mở cửa sớm, làm tiền đề cho phục hồi và phát triển kinh tế – xã hội như ngày nay.
Thứ ba, đẩy mạnh hội nhập và liên kết kinh tế quốc tế; kịp thời, nhanh nhạy tranh thủ thu hút nguồn lực bên ngoài phục vụ các động lực mới cho phát triển, nhất là tài chính xanh, đầu tư cho chuyển đổi năng lượng, đầu tư chất lượng cao…
Thứ tư, tích cực đồng hành, kết nối, hỗ trợ các địa phương, doanh nghiệp Việt Nam thúc đẩy xuất khẩu, thu hút đầu tư và mở rộng hợp tác kinh tế với nước ngoài, nhất là mở rộng các thị trường tiềm năng, khơi thông các thị trường mới.

Thứ năm, chủ động, nhạy bén trong công tác nghiên cứu, tham mưu phục vụ điều hành kinh tế – xã hội của Chính phủ trên cơ sở bám sát nhu cầu trong nước và các trọng tâm của Chính phủ. Từ đầu nhiệm kỳ tới nay, Bộ Ngoại giao đã có hàng trăm báo cáo có chất lượng về tình hình kinh tế thế giới và các vấn đề đang nổi lên có tác động sâu sắc đến phát triển kinh tế đất nước, từ đó tham mưu, kiến nghị chính sách phù hợp với Việt Nam.
“Chuyển từ lượng sang chất”
Kinh tế thế giới đang trải qua những thay đổi có tính thời đại, biến động nhanh chóng, phức tạp, khó lường, với nhiều xu thế mới và vai trò ngày càng quan trọng của các động lực tăng trưởng mới. Cùng với đó, đổi mới công nghệ diễn ra nhanh, tạo điều kiện cho các nước thực hiện các bước phát triển rút ngắn song đặt ra nguy cơ lớn về tụt hậu.
Quá trình toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế vẫn tiếp diễn, song xuất hiện xu hướng gia tăng bảo hộ, phân tách, phân mảnh, co cụm, bất bình đẳng; Cạnh tranh địa kinh tế-chính trị ngày càng gay gắt, nhất là tại châu Á – Thái Bình Dương, Đông Nam Á, gia tăng sức ép chọn bên cho các nước vừa và nhỏ. Các vấn đề an ninh truyền thống, phi truyền thống tác động ngày càng sâu rộng tới an ninh, phát triển của nhiều quốc gia, yêu cầu nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế.
Theo Thứ trưởng Nguyễn Minh Hằng, trong bối cảnh đó, các quốc gia trên thế giới phải tập trung giải quyết căn bản 5 vấn đề lớn. Đó là những vấn đề phải làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống, đồng thời thúc đẩy mạnh mẽ các động lực tăng trưởng mới; tranh thủ ngoại lực phục vụ phát triển, nhất là khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, đồng thời củng cố hiệu quả nội lực, nền tảng về thể chế, hạ tầng, nhân lực.
Cùng với đó, các quốc gia cũng cần bảo đảm tự chủ chiến lược, an ninh kinh tế, đồng thời hội nhập, liên kết quốc tế sâu rộng, thực chất. Ngoài ra, việc đa dạng hóa chuỗi cung ứng, mở rộng thị trường, đồng thời bảo vệ, củng cố sản xuất trong nước; duy trì tăng trưởng, phát triển, đồng thời bảo đảm ổn định xã hội, bảo vệ môi trường cũng là yếu tố quan trọng trong sự phát triển lành mạnh của mỗi quốc gia.
Sau gần bốn thập kỷ Đổi mới, Việt Nam đang đứng trước ngưỡng cửa của kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam; kỷ nguyên phát triển, giàu mạnh, văn minh, thịnh vượng, hướng tới 2 mục tiêu chiến lược 100 năm thành lập Đảng (2030) và 100 năm thành lập nước (2045).
Đây thời kỳ chuyển mình mạnh mẽ của đất nước cả về tư duy, hành động và khát vọng, là sự tiếp nối hành trình gần 40 năm đổi mới để “vươn mình, bứt phá và phát triển vượt bậc”.; là tầm nhìn phát triển nhanh, bền vững, độc lập và tự cường.
Theo Thứ trưởng Nguyễn Minh Hằng, bối cảnh đó đòi hỏi một sự thay đổi toàn diện và sâu sắc trong mọi lĩnh vực, trong đó, đối ngoại, ngoại giao kinh tế phục vụ phát triển phải là một trong những mũi nhọn đi tiên phong.
Thứ trưởng Nguyễn Minh Hằng cho rằng để đáp ứng yêu cầu của tình hình mới, ngoại giao kinh tế cần có sự chuyển mình mạnh mẽ trên các phương diện sau:
Về mục tiêu, chuyển từ “lượng” sang “chất”, từ thu hút sang kiến tạo. Trên tinh thần Nghị quyết 59 về Hội nhập quốc tế trong tình hình mới, ngoại giao kinh tế Việt Nam sẽ không chỉ dừng ở việc “đến sau”, “tham gia, gia nhập” mà kỳ vọng đóng góp “trí và lực” để “xây dựng và định hình” các khuôn khổ hợp tác, tối ưu hóa các nguồn lực cho phát triển, qua đó đặt nền tảng vững chắc cho không gian phát triển mới cho đất nước.
Nội hàm của NGKT cũng sẽ không chỉ là xúc tiến thương mại, đầu tư, mà còn mở rộng sang các nội hàm mới, chuyên biệt hơn như ngoại giao khoa học công nghệ, ngoại giao xanh… Chúng ta có thể thấy vừa qua, trong chuyến thăm cấp Nhà nước tới Hàn Quốc của Tổng Bí thư Tô Lâm, chúng ta đã có sự chuyển biến chiến lược từ hợp tác kinh tế sang liên kết kinh tế, qua đó mở ra những cơ hội mới trong tạo dựng, thu hút các nguồn lực.
Về phương thức, bám sát các chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước, với phương châm “chủ động – sáng tạo – đồng bộ – hiệu quả”, công tác NGKT cần sự đồng lòng, phối hợp, gắn kết chặt chẽ hơn giữa các chủ thể, giữa trong nước – ngoài nước, giữa các trụ cột đối ngoại, giữa Bộ Ngoại giao với các bộ, ngành, địa phương, hiệp hội/doanh nghiệp.
Trong đó, sáng tạo trong việc sử dụng công nghệ làm đòn bảy, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo phục vụ công tác phân tích, đánh giá và xây dựng chính sách; chủ động dự báo, cảnh báo sớm xu thế, tình hình và đề xuất chính sách, biện pháp ứng phó; tăng cường gắn kết giữa doanh nghiệp – nhà nước – đối tác nước ngoài; khai thác hiệu quả đa tầng nấc quan hệ quốc tế, cả song phương, đa phương, cả liên kết tiểu vùng, khu vực và liên khu vực.
Về đối tượng, trên cơ sở quan điểm chỉ đạo của “Bộ tứ trụ cột” Nghị quyết vừa được ban hành, cần có sự điều chỉnh căn bản các đối tượng là trung tâm phục vụ nhằm góp phần tăng cường tự chủ, nâng cao nội lực và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Mộc An
Nguồn: vietnamfinance.vn
