Nông nghiệp Việt Nam phải chuyển mình để xứng đáng là lợi thế quốc gia

Trong hành trình 20 năm tới của đất nước, nông nghiệp phải thực sự trở thành động lực tăng trưởng cốt lõi, hóa thân vào quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa.

Thời gian qua, thế giới và trong nước có nhiều sự vận động, thay đổi to lớn. Trước bối cảnh đó, ngành nông nghiệp tiếp tục được xem là trụ đỡ nền kinh tế, được khẳng định “là lợi thế quốc gia” và đặt ra những mục tiêu tăng trưởng lớn. Nhưng trong hành trình 20 năm tới, để đưa Việt Nam trở thành quốc gia thu nhập cao, cần một cuộc cách mạng trong tư duy trong nông nghiệp.

Để làm rõ hơn những thách thức, cũng như đường hướng để ngành nông nghiệp phát huy vai trò động lực then chốt cho sự phát triển của Việt Nam trong kỷ nguyên mới, Báo Nông nghiệp và Môi trường có cuộc phỏng vấn với TS. Đặng Kim Sơn, nguyên Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược nông nghiệp và phát triển nông thôn.

TS. Đặng Kim Sơn nhấn mạnh, nông nghiệp không được phép chỉ dừng lại ở vai trò trụ đỡ, tấm khiên bảo vệ nền kinh tế khi sóng gió, mà phải thực sự trở thành động lực tăng trưởng cốt lõi, hóa thân vào quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa.

TS. Đặng Kim Sơn, nguyên Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược nông nghiệp và phát triển nông thôn. Ảnh: Tùng Đinh.

TS. Đặng Kim Sơn, nguyên Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược nông nghiệp và phát triển nông thôn. Ảnh: Tùng Đinh.

– Thưa TS, những năm gần đây, nông nghiệp đã được khẳng định là trụ đỡ của nền kinh tế, được xem như lợi thế quốc gia nhưng tới đây vai trò của nông nghiệp sẽ như thế nào ?

Có thể nói, phát triển nông nghiệp là một điểm sáng, là một trong những thành tựu lớn nhất của 40 năm đổi mới. Là lực lượng mở đường trong quá trình đổi mới, nông nghiệp thực sự đã trở thành trụ đỡ, là tấm khiên, là áo giáp bảo vệ đất nước những khi khó khăn.

Hiện nay khi đất nước bước vào kỷ nguyên mới, phát huy lợi thế quốc gia, nông nghiệp đã thể hiện một chức năng ngày càng rõ rệt hơn là một động lực quan trọng của quá trình hiện đại hóa đất nước.

Về tổ chức kinh tế, nông dân chuyển thành kinh tế hộ, kinh tế hộ khởi nghiệp thành doanh nghiệp, doanh nghiệp nhỏ lên doanh nghiệp lớn, nông nghiệp tiến sang công nghiệp và dịch vụ thì đất nước mới công nghiệp hóa được.

Về tài nguyên, đất đai, nước, vốn…có tích lũy hiệu quả từ nông nghiệp, từ xuất khẩu nông sản thì mới đóng góp cho đầu tư, cho ngân sách để phát triển công nghiệp, kinh tế đô thị.

Về xã hội, lao động nông thôn có rút khỏi nông nghiệp, có nâng cao tay nghề và kiến thức để tăng năng suất lao động, cư dân nông thôn có thay đổi sinh kế và cư trú để chuyển thành cư dân đô thị thì mới đô thị hóa thành công.

Phải nói rằng trong phát triển, nông nghiệp đã hóa thân vào cả nền kinh tế. Nếu tính tỷ lệ đóng góp vào GDP của nông nghiệp đến nay khoảng 11 -12%. Nhưng nếu tính đóng góp của nông nghiệp vào công nghiệp chế biến, chế tạo; tính cả sự chuyển đổi của lao động phổ thông sang lao động trí thức; vốn tích lũy được từ nông nghiệp sau đó chuyển thành vật tư, thiết bị, đầu tư cho công nghiệp, dịch vụ thì nông nghiệp nằm trong tất cả, đóng góp rất nhiều.

Bên cạnh đó, nông nghiệp, nông thôn còn có những đóng góp to lớn về văn hóa, xã hội, môi trường, an ninh, quốc phòng… nhất là hiện nay khi ngành nông nghiệp đã kết hợp với môi trường và tài nguyên, gắn với phát triển nông thôn, nông dân. Do đó, nếu nhìn nhận một cách tổng hợp, trong thành quả tăng trưởng ngoạn mục, xây dựng nền kinh tế vĩ đại thời gian vừa qua, và nhất là trong tương lai thì đóng góp cốt lõi của nông nghiệp là rất quan trọng.

Bác Hồ xác định sức mạnh nông nghiệp của quốc gia: “Trong công cuộc xây dựng nước nhà, Chính phủ trông mong vào nông dân, trông cậy vào nông nghiệp một phần lớn”.

Nông nghiệp là ngành kinh tế thực, có quy mô lớn nhất của đất nước, tạo ra sản phẩm trực tiếp từ đất, trời, lao động, trí tuệ. Vì thế, quá trình tăng trưởng kinh tế nông nghiệp, xuất khẩu nông sản cung cấp giá trị gia tăng, có tỷ lệ đóng góp nội địa cao nhất trong nền kinh tế.

Đó không phải thuyết trọng nông mà là thực tế phát triển thành công suốt 40 năm đổi mới, là vị thế xuất khẩu nông sản Việt Nam trên thế giới. Từ đó, Nghị quyết 19 của hội nghị Trung ương kết luận: “nông nghiệp là lợi thế quốc gia”.

Đảng chưa nói ngành nào khác là lợi thế quốc gia và trên thế giới cũng ít nước có thể khẳng định nông nghiệp là lợi thế quốc gia của họ. Đó là niềm tự hào và trách nhiệm của người làm nông nghiệp – môi trường khi bước vào kỷ nguyên mới của dân tộc.

Xin nhấn mạnh lại, bên cạnh vai trò trụ đỡ nền kinh tế, ngành nông nghiệp còn có một chức năng rất quan trọng, đó là động lực phát triển và đó là lợi thế của đất nước.

– Với những vai trò, chức năng quan trọng như TS vừa chia sẻ, ngành nông nghiệp sẽ phải đối mặt với những thay đổi cốt lõi nào về môi trường phát triển trong giai đoạn mới?

Chúng ta đã bước vào thời kỳ nước rút về đích để trong khoảng 20 năm nữa hoàn thành mục tiêu trở thành quốc gia có thu nhập cao với những đổi thay mới trên đất nước và đúng vào lúc mà bối cảnh toàn cầu biến chuyển mạnh.  Trước hết nói về trong nước.

Thứ nhất, việc sáp nhập các địa phương đã thay đổi không gian phát triển kinh tế quốc gia. Nếu trước đây các tỉnh nằm trọn trong các vùng sinh thái khác biệt thì bây giờ nhiều địa phương trải từ núi xuống biển hay nối đồng bằng với cao nguyên, nhiều thành phố trực thuộc trung ương vươn lên từ cấp tỉnh.

Điều đó tạo nên một chuỗi kết nối liền mạch, kinh tế biển – kinh tế rừng, kinh tế đồng bằng – kinh tế trung du; nông thôn – đô thị phối hợp với nhau.  Không gian kinh tế mới, tạo ra những vùng động lực, những hành lang phát triển hoàn toàn mới cho cả nước, tạo lợi thế và chức năng mới cho các địa phương.

Thứ hai, những thay đổi to lớn về cơ sở hạ tầng nhanh chóng với tốc độ phát triển không khác gì nhiều nước lớn trước đây trong giai đoạn tăng tốc công nghiệp hóa. Sân bay, cảng biển, đường cao tốc, đường sắt cao tốc, hệ thống năng lượng, logistics phát triển như thế sẽ nhanh chóng xóa đi sự chia cắt giữa các vùng, sẽ kết nối Việt Nam với các quốc gia lân cận và ra thế giới.

Cộng vào đó là sự phát triển nhanh chóng các đô thị lớn, hình thành các trung tâm kinh tế xã hội cho mỗi vùng và gắn kết nhau thành một thể tổng hợp. Nhiều cơ hội và thách thức mới cho quá trình phối hợp kinh tế quốc gia, hội nhập kinh tế quốc tế sẽ xuất hiện.

Thứ ba, là cuộc cách mạng về tổ chức đã tạo ra sự biến đổi lớn trong bộ máy nhà nước. Ở cấp bộ, việc sáp nhập nhiều ngành, lĩnh vực với nhau tạo ra sự phối hợp rất mới chức năng nhiệm vụ. Tại địa phương, việc sáp nhập tỉnh, bỏ cấp huyện, nhập xã thôn tạo ra thay đổi lớn về phương thức làm việc.

Cùng lúc, mặt trận tổ quốc và các đoàn thể xã hội cũng tái cơ cấu tổ chức. Tất cả những điều đó vừa tạo ra cơ hội, vừa đem lại thách thức mới. Cơ hội xuất hiện khi bỏ các bước trung gian, giảm bộ máy cồng kềnh, cấp thêm quyền cho cơ sở, đi kèm những thách thức to lớn của khoảng cách quản lý và năng lực cung cấp dịch vụ công.

Thứ tư, thế giới bên ngoài cũng thay đổi nhanh chóng. Sau đại dịch covid, là những xung đột cục bộ địa chính trị gây ra đứt gãy các chuỗi giá trị toàn cầu. Các quốc gia đang điều chỉnh chính sách đối ngoại hướng nhiều về với lợi ích trực tiếp bên trong, dựng nên các hàng rào kỹ thuật, áp dụng thuế đối ứng, thay đổi cách bố trí sản xuất,…

Các định chế quốc tế thay đổi phong cách điều hành can thiệp, vai trò bảo vệ, hỗ trợ, phán xử đã khác trước. Các liên minh, tổ chức khu vực cũng chỉnh sửa phạm vi đối tác, cách thức phối hợp, cơ chế hoạt động. Chưa kể đến biến đổi khí hậu mạnh mẽ và phát triển khoa học công nghệ nhanh chóng.

Trong quá trình phát triển, nông nghiệp đã hóa thân vào cả nền kinh tế. Ảnh: Tùng Đinh.

Trong quá trình phát triển, nông nghiệp đã hóa thân vào cả nền kinh tế. Ảnh: Tùng Đinh.

– Những thay đổi nói trên, ảnh hưởng thế nào đến chúng ta?

Đương nhiên là chúng đem lại cả thách thức lẫn cơ hội. Trước hết, bàn về thách thức. Với mức độ sản xuất hiện nay thì  mối quan tâm hàng đầu là thu xếp thị trường xuất khẩu.

10 năm qua, đã giảm 1 triệu ha đất lúa, nếu trong 4 – 5 năm tới giảm thêm 0,6 triệu ha đất lúa nữa thì lượng gạo xuất khẩu sẽ có thể không còn đáng kể, câu chuyện cơ bản nhất của nông nghiệp là lương thực lại là vấn đề phải tính đến khi có thiên tai trong nước hay biến động thị trường ở các nước lân cận.

Cần nghiên cứu cẩn thận để rà soát quỹ đất lúa, để xem xét ảnh hưởng gián tiếp đến hệ thống thủy lợi, giao thông đồng ruộng khi chuyển thêm 1 triệu ha đất nông nghiệp sang các mục đích sử dụng khác, đến tác động của biến đổi khí hậu và sụt lún ở đồng bằng sông Cửu Long đến sản xuất lúa.

Quay về vấn đề xã hội, trong khoảng 20 năm tới, phải chuyển phần lớn trong số gần 16 triệu hộ nông thôn (một nửa là hộ nông nghiệp) sang đô thị, gần 32 triệu lao động nông thôn (hơn một nửa là lao động nông nghiệp) thành lao động phi nông nghiệp có tay nghề và trí thức.

Quá trình lột xác đó thuần túy nhờ tích lũy nội tại. Hàng triệu gia đình nông thôn phải có nguồn lực để chuyển sang sống ở đô thị. Hàng chục triệu người lao động phải có sinh kế từ công nghiệp, dịch vụ.

Quá trình tích tụ vốn, học hỏi kỹ năng, đảm bảo an sinh sẽ diễn ra cực kỳ quyết liệt trong bối cảnh già hóa dân số, chênh lệch giới tính… Rõ ràng, phải nghiên cứu với các mô hình dự báo đáng tin cậy để bảo đảm ổn định xã hội trong chuyển đổi quyết liệt đó.

Trên đây là hai ví dụ trong hàng loạt thách thức an ninh phi truyền thống mà chúng ta đang phải đối mặt như xâm nhập dịch bệnh khi hệ thống giao thông tốc độ cao phát triển mạnh với quy mô khắp các vùng nông nghiệp quan trọng.

Siêu thiên tai tác động mà các quốc gia trong vùng chưa có biện pháp phối hợp tự vệ như cùng tranh nước khi hạn hán, cùng xả đập khi lũ lớn.

Mất cân bằng sinh thái và môi trường ở những vùng nông nghiệp mỏng manh như thủy sản ở Đồng bằng sông Cửu Long, cây ăn quả ở Tây Nguyên,… khi đô thị và hệ thống giao thông hiện đại phát triển nhanh chóng. Để đối mặt với những thách thức như vậy, vai trò trụ đỡ, lá chắn, tấm khiên, nền tảng của nông nghiệp sẽ trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.

– Thế còn về vai trò động lực phát triển của ngành nông nghiệp?

40 năm qua là đỉnh cao của nông nghiệp Việt Nam, còn sắp tới thì sao? Trong quá trình tăng tốc công nghiệp hóa,  nguồn lực rất hạn hẹp của ngành nông nghiệp về đất, nước, con người, sinh học, khoáng sản,… sẽ được lấy đi rất nhanh, rất nhiều và chắc chắn lợi thế của nông nghiệp trong cuộc cạnh tranh quốc tế sẽ giảm mạnh, ít nhất là với những sản phẩm hiện tại.

Xuất phát điểm của chúng ta còn thấp: quy mô sản xuất ở cấp hộ nhỏ nhất thế giới, doanh nghiệp ít và nhỏ yếu, mức đầu tư toàn xã hội cho cho nông nghiệp cũng rất thấp… Nông nghiệp mất cạnh tranh là xu thế diễn ra ở nhiều nước bước vào giai đoạn về đích công nghiệp hóa.

Theo mô hình của các nước phát triển trước kia ở Âu Mỹ, nông nghiệp nông dân và nông thôn là những đối tượng phải hy sinh để tạo nên thành tựu công nghiệp hóa.

Trong bức tranh thách thức, sụt giảm về nguồn lực như vậy, nếu bỏ mặc thì nông nghiệp sẽ mất lợi thế và thua cuộc, còn nếu đầu tư hỗ trợ thì một nền nông nghiệp bình thường sẽ đứng vững và giữ cho xã hội, môi trường ổn định dù là ở các nước không có lợi thế nông nghiệp.

Ngày nay, kinh nghiệm của các nền kinh tế mới phát triển Đông Á đã bổ sung cách tiếp cận mới: chiến lược “phát triển bao trùm”: vừa không bỏ lại một ai trong quá trình phát triển, vừa tạo điều kiện cho tất cả các địa phương và lĩnh vực phát huy lợi thế cùng vươn lên.

Một quốc gia có lợi thế có thể biến nông nghiệp thành một ngành hiện đại, có thể chuyển đội ngũ lao động nông thôn thành lực lượng lao động có tay nghề và tri thức, có thể phát triển đô thị tại địa bàn nông thôn.

Ở một nước có lợi thế nông nghiệp thì khi đất nước khá lên, đầu tư hiệu quả cho nông nghiệp thì nó sẽ trở thành một động lực kinh tế quan trọng không kém gì công nghiệp và dịch vụ trong quá trình hiện đại hóa.

Đây là thực tế ở Bắc Âu và Thái Bình Dương (Hà Lan, Bỉ, Đan Mạch, Ireland, New Zealand…) nơi mà các trang trại hiện đại có suất đầu tư, hàm lượng khoa công nghệ và giá trị sản xuất ra không kém gì so với các nhà máy công nghiệp. Các nước nhỏ bé này đã trở thành các cường quốc xuất khẩu nông nghiệp trên thế giới khi đã công nghiệp hóa thành công.

Vai trò trụ đỡ, lá chắn, tấm khiên, nền tảng của nông nghiệp trở nên quan trọng hơn bao giờ hết trong bối cảnh thách thức an ninh phi truyền thống. Ảnh: Tùng Đinh.

Vai trò trụ đỡ, lá chắn, tấm khiên, nền tảng của nông nghiệp trở nên quan trọng hơn bao giờ hết trong bối cảnh thách thức an ninh phi truyền thống. Ảnh: Tùng Đinh.

– Vậy hoàn cảnh của Việt Nam sẽ như thế nào, thưa TS?

Chúng ta đi sau và thời gian qua đi quá chậm, để thoát ra khỏi nguy cơ tụt hậu, phải tăng tốc về đích với mức tăng trưởng  kỷ lục trong thời gian ngắn.  Mọi người thường nghĩ chỉ có công nghiệp và dịch vụ mới tăng trưởng được hai con số, còn nông nghiệp khó mà tăng 5%, đương nhiên phải dồn sức sang những lĩnh vực khác.

Tuy nhiên, phần đáng kể công nghiệp cũng đang phải tái cơ cấu để thoát ra khỏi “mô hình gia công” với xuất khẩu lớn, GDP cao nhưng giá trị gia tăng, hiệu quả tích lũy trong nước thấp, chưa kể những vấn đề về xã hội và môi trường.

Ngành dịch vụ cũng đang phải đương đầu với năng lực phát triển tài nguyên con người, vượt qua những vấn đề của giáo dục, y tế, văn hóa và tình hình già hóa dân số,…

Bản thân nông nghiệp cũng đang đứng trước những thách thức của kinh tế gia công và phát triển con người. Các tập đoàn đa quốc gia có thế mạnh về khoa học công nghệ, vốn đầu tư và thị trường quốc tế đang tiến vào nông nghiệp, đã triển khai rộng rãi mô hình gia công trong một số lĩnh vực chăn nuôi và bắt đầu ở những lĩnh vực khác…

Khi chúng ta yếu đi, họ sẽ tiến vào và thay thế. Năng suất lao động nông nghiệp Việt Nam đang thấp hơn ngành công nghiệp 2,5 lần và thấp hơn dịch vụ 2,3 lần thì làm thế nào mà thuyết phục đầu tư vào nông nghiệp? Nếu so với Thái Lan thì năng suất lao động nông nghiệp Việt Nam thấp hơn 1,3 lần, Trung Quốc hơn ta 3 lần thì cạnh tranh ra sao?

Trong bối cảnh lợi thế cạnh tranh giảm dần thì giá trị từ xuất khẩu nông sản sẽ thế nào? sức mạnh bảo vệ đất nước của nông nghiệp sẽ ra sao mỗi khi thế giới xảy ra biến động?. Một phần lớn lao động công nghiệp sẽ về nghỉ ở lứa tuổi 50, một phần lớn lao động dịch vụ phi chính thức không có bảo hiểm xã hội sẽ ra sao?

Khi đô thị hiện đại lấy hết người trẻ, người giỏi, người giàu liệu nông thôn có bị bỏ lại hoang vắng như nhiều vùng ở Nhật Bản, Trung Quốc, Nga, Đông Âu,… hiện nay không? Lúc đó thì vai trò gìn giữ văn hóa, bảo vệ lãnh thổ,  phòng chống thiên tai, bảo vệ tài nguyên… của nông thôn sẽ còn gì?

Không trả lời được những câu hỏi này thì dù công nghiệp có phát triển thế nào, đô thị có lan rộng đến đâu thì nông nghiệp, nông dân và nông thôn suy giảm cũng kéo tụt cả nền kinh tế vào “bẫy thu nhập trung bình”.

Peter Timer, giáo sư nổi tiếng cả hai Đại học Harvard và Stanford đã nói với tôi rằng: một quốc gia, khi tỷ lệ đóng góp GDP của nông nghiệp xuống dưới 20% thì không được lấy nguồn lực đi nữa mà phải tái đầu tư trở lại.

Nhiều năm nay, nông nghiệp không bị lấy đi nữa, nhưng tổng đầu tư xã hội cho nông nghiệp gần đây chỉ khoảng 5% và đầu tư của Nhà nước dưới 10%. Thế mà người nông dân, người thương lái, người doanh nhân bé tí ti của Việt Nam vẫn xuất khẩu ở mức kỷ lục 70 tỷ USD là quá vĩ đại.

Ở Việt Nam, tỷ lệ đóng góp vào GDP của nông nghiệp hiện nay chỉ còn nhỉnh 10%. Chúng ta đã xuống thấp hơn một nửa so với tỷ lệ của giáo sư Peter Timer, là nhờ có lợi thế nhưng không thể lạm dụng hơn nữa. Các nước xung quanh đều đang đầu tư trở lại mạnh mẽ cho nông nghiệp.

– Nghĩa là chúng ta phải giữ bằng được mặt trận nông nghiệp?

Đúng vậy và hơn thế! Lợi thế của đất nước phải được tạo cơ hội để phát huy. Trước hết, phải giữ vững mặt trận nông nghiệp, địa bàn nông thôn để người nông dân không bị lụi xuống và kéo theo cả nước.

Ngược lại, họ cần có đủ điều kiện tích lũy vốn và kiến thức tự “lột xác khởi nghiệp”, đưa đất nước tiến lên. Từ bàn đạp ấy, nông nghiệp phải làm mũi tấn công của nền kinh tế và tiếp tục làm động lực cho những ngành khác phát triển.

Nông nghiệp phải hóa thân vào mọi ngóc ngách, lồng ghép vào mọi lĩnh vực để cả nước có thể đạt được mục tiêu tăng trưởng 2 con số trong những năm nước rút này. Bản thân ngành nông nghiệp cũng phải vươn mình tăng trưởng nông nghiệp không chỉ ở mức 3-4% nữa, mà cao hơn, xuất khẩu cũng vậy.

– Vậy theo TS, những nhiệm vụ có vẻ bất khả thi này có thể thực hiện được không? và làm theo cách nào?

Nhiệm vụ này không phải là bất khả thi vì đã từng được thực hiện. Ở Việt Nam năm 1992 tốc độ tăng giá trị sản xuất nông nghiệp đã đạt trên 6% (năm đó chưa tính GDP), ở Trung Quốc, tăng trưởng GDP nông nghiệp đã đạt mức 7,2 – 7,4% trong giai đoạn 1978 – 1984. Còn Hà Lan một nước chỉ có diện tích và dân số tương đương với đồng bằng sông Cửu Long của ta mà đã xuất khẩu nông nghiệp vượt ngưỡng 100 tỷ USD cách đây nhiều năm.

Thực sự chúng ta có thể làm được, thậm chí làm tốt hơn vì Việt Nam ngày nay có điều kiện tốt hơn Trung Quốc và nước ta trước kia, đồng thời lợi thế nông nghiệp của Việt Nam về nhiều phương diện cũng hơn hẳn so với Hà Lan. Bắt đầu từ việc cần tái cơ cấu lại sản xuất nông nghiệp để thích nghi với bối cảnh mới trong và ngoài nước.

Nghị quyết  Trung ương 19  năm 2022 đã xác định một sự chuyển đổi có tính nền tảng: “Chuyển mạnh tư duy từ sản xuất nông nghiệp sang phát triển kinh tế nông nghiệp gắn với nhu cầu thị trường”.

Bắt đầu bằng việc hoàn thiện các chuỗi giá trị chiến lược đã hình thành rõ nét hôm nay. Biến các mặt hàng xuất khẩu và cung cấp cho thị trường trong nước với quy mô tỷ USD thành các vùng chuyên canh hoàn chỉnh về cơ sở hạ tầng, dịch vụ và tổ chức, có các chuỗi giá trị hoàn chỉnh, thông suốt về thể chế, tiêu chuẩn, thương hiệu không bị đứt gãy.

Nền tảng của chuỗi giá trị này là sự liên kết chặt chẽ giữa tổ chức nông dân – doanh nhân – nhà nước. Tiếp đó là tái cấu trúc không gian kinh tế nông nghiệp – môi trường theo thế mạnh.

Rà soát điều chỉnh lại quy hoạch theo lợi thế đặc thù. ĐBSCL là vùng nông nghiệp lớn của thế giới về lúa, thủy sản, trái cây, tận dụng vịnh Thái Lan không bão, không mùa đông để nuôi trồng thủy sản quy mô lớn thay thế cho đánh bắt nhỏ hiện nay.

Tây Nguyên, phát triển cây công nghiệp, cây ăn quả, lâm nghiệp. Vùng núi phía Bắc sẽ phát triển kinh tế rừng (gỗ, chế biến lâm sản, lâm sản ngoài gỗ) kết hợp bảo vệ nguồn nước, nguồn rừng, nguồn khoáng sản).

Duyên hải Trung Bộ phát triển kinh tế biển (nuôi trồng trên bờ và trên biển, đánh bắt hợp lý, chế biến sâu), dịch vụ logistics, du lịch sinh thái, năng lượng tái tạo. Đồng bằng sông Hồng và ĐBSCL tập trung phát huy thế mạnh về nguồn nhân lực để phát triển kinh tế dịch vụ (tại chỗ và xuất khẩu).

Về không gian từng vùng sinh thái nông nghiệp, cần hình thành hệ sinh thái  phát triển ngành: mỗi vùng có lõi hạt nhân KHCN là các Viện nghiên cứu  và các trường đại học tạo ra các tiến bộ và giải pháp công nghệ – gắn với các thành phố “đáng sống” để thu hút nhân tài và nguồn nhân lực chất lượng cao, phát triển dịch vụ cho cả vùng.

Vòng bên ngoài là các khu nông nghiệp công nghệ cao – gắn với các  doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao để ứng dụng các kết quả khoa học vào sản xuất kinh doanh.

Hệ thống đó sẽ liên kết với đông đảo doanh nghiệp nhỏ – hợp tác xã và nông dân làm vệ tinh trong toàn vùng chuyên canh. Nối vào vùng là hệ thống logistics thông xuống thị trường hoặc cửa khẩu, bến cảng và khu công nghiệp chế biến nông sản, sản xuất vật tư máy móc phục vụ vùng chuyên canh.

Như vậy, ngành nông nghiệp sẽ trở thành nền kinh tế nông nghiệp theo thế mạnh từng vùng. Sản phẩm của mỗi vùng không chỉ là nông sản, khoáng sản mà còn có cả vật liệu, hóa chất, nhiên liệu,… và các sản phẩm được chế biến sâu tiếp theo như thực phẩm, dược phẩm, mỹ phẩm, vật liệu xây dựng, dệt may da giày, máy móc thiết bị, cây con giống,… và dịch vụ tiếp theo đó du lịch trải nghiệm, ăn uống ẩm thực, y tế chăm sóc sức khỏe, làm đẹp nghỉ dưỡng, thiết kế trang phục, nghiên cứu khoa học, đào tạo giáo dục, tổ chức  nông nghiệp công nghệ cao, chuyển giao kỹ thuật, cung cấp chuyên gia, cung cấp công nhân kỹ thuật, cung cấp cán bộ quản lý,… GDP của cả vùng như vậy sẽ tăng trưởng với tốc độ phối hợp của cả nông nghiệp hiện đại + công nghiệp + dịch vụ theo lợi thế.

Nông nghiệp Việt Nam cần được tái đầu tư. Ảnh: Tùng Đinh.

Nông nghiệp Việt Nam cần được tái đầu tư. Ảnh: Tùng Đinh.

– Sau tái cấu trúc nông nghiệp trong nước là gì, thưa TS?

Có lẽ cũng không cần phải đợi đến tái cấu trúc xong mà chúng ta có thể bắt tay làm ngay. Trong bối cảnh tài nguyên chuyển nhanh sang cho phi nông nghiệp và đô thị, nông nghiệp trong nước cần phải biến thành ngành kinh tế sử dụng hiệu quả tài nguyên để đem lại giá trị cao nhất.

Để tạo ngay được sinh kế cho đông đảo đội ngũ nông dân và lao động nông thôn, mở ngay ra cơ hội khởi nghiệp cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, rộng đường tiến ra sản xuất lớn và áp dụng khoa học công nghệ cao cho các doanh nghiệp lớn đầu đàn.

Đã đến lúc chúng ta phải bắt đầu thực hiện chiến lược đã được Nhà nước xác định: chuyển từ “xuất khẩu nông sản” sang “xuất khẩu nông nghiệp”

Nghị quyết 85 về chương trình hành động của chính phủ năm 2026 chỉ đạo: “thúc đẩy quá trình “xuất khẩu ngành nông nghiệp” để nâng cao khả năng tiếp cận thị trường, sức cạnh tranh, giá trị gia tăng, uy tín và vị thế của đất nước”.

Đã đến lúc chúng ta không thể dừng lại ở vị thế xuất khẩu nông sản đứng thứ 15 trên thế giới và thứ 2 trong vùng mà phải tiến ra xuất khẩu giống cây con, vật tư thiết bị máy móc nông nghiệp, công nghệ và quy trình quản lý, lực lượng lao động tay nghề cao và đội ngũ chuyên gia kỹ thuật quản lý.

Hơn thế nữa, các doanh nghiệp Việt Nam phải đẩy mạnh đầu tư vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, chế biến nông nghiệp ở các nước có lợi thế và các thị trường có triển vọng trên thế giới.

Rất nhiều nước gần Việt Nam (Trung Quốc, Philippines Indonesia, Singapore, Nhật Bản, Hàn Quốc…) đều cần đảm bảo an ninh lương thực trong điều kiện sản xuất nông nghiệp hạn chế.

Một số nước khác lại có điều kiện để phát triển nông nghiệp nhưng thiếu năng lực sản xuất kinh doanh ( Lào, Campuchia, Myanmar,…). Châu Phi là thị trường to lớn, vừa là địa bàn rất tiềm năng.

Ở đó có rất nhiều quốc gia muốn thu hút đầu tư và những hoạt động sản xuất nông nghiệp làm mô hình nhân rộng, làm cốt lõi để lan tỏa của Việt Nam.

Chưa kể đến Nam Mỹ, Đông Âu, Nga, Úc,… các quốc gia có quỹ đất lớn và có thị trường. Tại các địa bàn trên đều ít nhiều đã có hoạt động đầu tư, tổ chức sản xuất nông nghiệp của doanh nghiệp và lao động Việt Nam. Rất nhiều nước đang đề nghị Việt Nam cùng đầu tư.

Trong bối cảnh hiện nay, các nước tham gia chuỗi giá trị toàn cầu thường áp dụng chiến lược “hai mũi tiến”: một là ra nước ngoài theo đội hình tổng hợp kết hợp đầu tư – sản xuất – kinh doanh nhằm đảm bảo hoạt động cả chuỗi giá trị trong mọi tình huống và nhanh chóng thu lợi nhuận, chiếm lĩnh và mở rộng thị trường vững bền.

Hai là vốn liếng, công nghệ, lực lượng tích lũy được phải đưa về đầu tư trong nước với những khâu then chốt đảm bảo cạnh tranh quốc gia như khâu nghiên cứu khoa học, các sản phẩm có ý nghĩa chiến lược (giống, phần mềm, công nghệ lõi,…), các hoạt động giá trị gia tăng cao nhất (thiết kế, chế biến sâu, thương hiệu,…), các tài sản quan trọng nhất (chuyên gia hàng đầu, nguồn gen di truyền, hệ thống số liệu gốc,…). Đây cũng là chiến lược mà chúng ta cần áp dụng.

Ra nước ngoài, đầu tư vào một vùng chuyên canh có lợi thế cụ thể cần chuẩn bị sẵn nguồn cung đầu vào (giống, phân, thuốc, máy móc, vật tư, nhiên liệu); có lực lượng để tổ chức các dịch vụ sản xuất (làm đất, tưới nước, bảo vệ, thu hoạch, chế biến, Logistics) gắn với chuẩn bị địa bàn hoàn chỉnh (nguồn đất, nguồn nước, giao thông, thông tin, liên lạc, ăn ở, tiếp cận thị trường) muốn vậy, phải chuẩn bị một đội hình có doanh nghiệp lớn đầu tàu, kéo theo các doanh nghiệp phụ trợ, chuyên gia và nông dân tay nghề cao từng địa phương.

Trước đó, ngành chức năng cần chuẩn bị sẵn ngoại giao và pháp lý (thủ tục xuất, nhập cảnh, cư trú và hành nghề, các chính sách thuế, phí, trợ cấp, các chính sách tiếp nhận chuyển giao vốn đầu tư, lợi nhuận, sử dụng lao động, bảo vệ sở hữu trí tuệ, an ninh, tiếp cận tài nguyên…)

Nền kinh tế nông nghiệp cần đến tái cấu trúc không gian kinh tế nông nghiệp - môi trường theo thế mạnh. Ảnh: Tùng Đinh.

Nền kinh tế nông nghiệp cần đến tái cấu trúc không gian kinh tế nông nghiệp – môi trường theo thế mạnh. Ảnh: Tùng Đinh.

– Còn trong nước, chúng ta sẽ phải làm gì tiếp theo?

Theo chiến lược trên, mỗi một tập đoàn đầu đàn, từng doanh nghiệp và ngay cả mỗi gia đình và người lao động đều phải có kế hoạch của mình để sử dụng đồng vốn, kiến thức và năng lực tiếp thu được từ bên ngoài để tái đầu tư trong nước hiệu quả.

Với doanh nghiệp là tham gia quá trình tái cơ cấu nêu trên để biến ngành nông nghiệp cũ thành nền kinh tế nông nghiệp, đúng hơn là nền kinh tế sinh học tương lai, với mỗi người là tích lũy trở lại để gia đình ở nhà có thể đầu tư chuyển đổi sinh kế mới, cư trú mới, công nghệ mới, tham gia quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa của  mỗi địa phương và cả đất nước.

Đó là quá trình chuyển kết quả xuất khẩu ngành nông nghiệp thành tốc độ tăng trưởng cao của kinh tế trong nước, thực sự đưa nông nghiệp thành động lực tăng trưởng.

Trong cả hai mũi, xuất khẩu ra bên ngoài và tái cơ cấu bên trong, yếu tố đột phá là cải cách thể chế: để giảm tải cho đội ngũ có hạn của cán bộ nhà nước sau sắp xếp lại, để thực sự đưa nhân dân trở thành chủ thể của quá trình phát triển, để hóa giải cho được điểm yếu chí tử là “nhỏ lẻ” của nền nông nghiệp Việt Nam.

Trước hết cần tập hợp các hộ nông dân nhỏ vào hợp tác xã để chuyển sản xuất nhỏ thành sản xuất lớn; đưa các hộ kinh doanh nông thôn (chủ máy, xay xát, buôn vật tư…) vào hiệp hội đưa kinh doanh nhỏ thành kinh doanh lớn.

Các doanh nghiệp vừa và nhỏ được tập hợp thành các hiệp hội, đại diện của tất cả các đối tượng trong các chuỗi giá trị (nông dân, thương lái, doanh nghiệp, nhà nước) cùng tham gia vào các hội đồng ngành hàng cho các sản phẩm chiến lược.

Các tổ chức hợp tác xã, hiệp hội, nghiệp đoàn, hội đồng ngành hàng,…  phải được tổ chức theo bản chất cộng đồng (ban chấp hành do các thành viên bầu ra và thuê CEO và cán bộ quản lý chuyên nghiệp vận hành, chi phí hoạt động do các thành viên đóng góp).

Các tổ chức này có nhiệm vụ bảo vệ quyền lợi chính đáng của thành viên và tham gia cùng nhà nước trong các hoạt động liên quan trực tiếp đến thành viên.

Nhà nước cần tính 2 việc: một là, chuyển giao dịch vụ công phục vụ đối tượng cụ thể cho các tổ chức trên (đào tạo chuyên môn, khuyến nông, thông tin thị trường, nghiên cứu ứng dụng,…); hai là, phân quyền quản lý kỹ thuật cho các hiệp hội (như kiểm định vật tư, sản phẩm, đăng ký hành nghề, thi hành tiêu chuẩn,…). Từ đó,  lấy sức dân mà phục vụ cho dân.

Các cơ quan quản lý nhà nước sẽ quản lý các tổ chức cộng đồng thực hiện các hoạt động quản lý kỹ thuật và cung cấp dịch vụ công trực tiếp cho từng thành viên. Đảm bảo khách quan và nghiêm minh thực thi pháp luật.

Nhờ đó bộ máy của  các cơ quan nhà nước đã gọn nhẹ sau cách mạng tổ chức vẫn đủ sức bao quát được mọi lĩnh vực trong quá trình phát triển kinh tế ngày càng đa dạng, đồng thời tập trung sức vào các hoạt động chính như hoạch định kế hoạch, pháp luật, chính sách, quy hoạch và nắm giữ các dịch vụ công quan trọng nhất mà các tổ chức cộng đồng không thể đảm nhiệm. Ví dụ: đàm phán ngoại giao, phòng chống thiên tai, dịch bệnh trên quy mô lớn, kiểm lâm, bảo vệ nguồn lợi thủy sản,…

Trong công tác phát triển nông thôn cũng cần có sự đột phá về thể chế theo hướng phát triển các tổ chức cộng đồng. Bên cạnh vai trò chỉ huy của Đảng bộ và Chính quyền địa phương, cần hình thành và phát huy vai trò của các cộng đồng phát triển thôn bản do những người uy tín dẫn dắt.

Có chính sách phân cấp, trao quyền để các tổ chức này chủ động tham gia các hoạt động phát triển kinh tế, bảo vệ trật tự an ninh xã hội, phát triển văn hóa môi trường trên địa bàn.

Có chính sách để cộng đồng dân cư bản địa tham gia quản lý và bảo vệ tài nguyên, an ninh rừng, mặt nước, biển đảo… Cần có biện pháp để tổ chức vào các nghiệp đoàn  lực lượng lao động rút ra từ nông nghiệp trong tiến trình chuyển ra các ngành nghề phi nông nghiệp để được bảo vệ quyền lợi, bảo hiểm, đào tạo.

Cần có hệ thống chính sách khuyến khích để chỉ đối tượng nông dân giỏi mới được hỗ trợ, được ưu tiên. Ảnh: Tùng Đinh.

Cần có hệ thống chính sách khuyến khích để chỉ đối tượng nông dân giỏi mới được hỗ trợ, được ưu tiên. Ảnh: Tùng Đinh.

– Vậy theo ông, sau những giải pháp đột phá đó, yếu tố con người sẽ phải thay đổi thế nào để phát huy được thế mạnh tổng thể này?

Suy cho cùng, nhân tố quan trọng nhất tạo nên lợi thế quốc gia của ngành nông nghiệp chính là con người. Quy mô đất đai của chúng ta ít nhất thế giới, khí hậu thời tiết rừng biển của chúng ta cũng như các nước xung quanh.

Yếu tố giúp nông nghiệp Việt Nam phát triển rực rỡ là nhờ người nông dân, người kinh doanh nhỏ cần cù, sáng tạo, lực lượng doanh nhân dũng cảm, nhanh nhạy, đội ngũ cán bộ biết việc, chịu khó.

Ngược lại cái cản trở nhiều nhất, điểm nghẽn của điểm nghẽn cũng là con người. Làm ăn nhỏ lẻ vì không chịu liên kết, phối hợp nhau; con sâu bỏ rầu nồi canh, cùng đua nhau gian lận để hỏng uy tín chung…. Tuy nhiên, tính xấu sinh ra là do cơ chế xấu.

Thời bao cấp, cấp trên ở cấp xã nhiều nơi bị coi là “lớp cường hào mới” chỉ biết “rong công, phóng điểm”, xã viên ở dưới thì đợi kẻng gõ, vác cuốc ra đồng “cấy chay, bừa chùi” qua quýt để về chăm sóc ruộng 5%.

Công nhân lái máy kéo thì “trâu đen ăn cỏ, trâu đỏ ăn gà” không có tiền đút lót là làm ăn gian dối. Ở trong các cửa hàng là những khuôn mặt vênh váo và thái độ trỏng lỏn của các cô mậu dịch viên chuyên móc ngoặc với con buôn chợ đen… thế rồi không phải nhờ kỷ luật hay xử phạt gì, đùng một cái, khi quay lại cơ chế thị trường thì tất cả những con người ấy lập tức biến đổi.

Nông dân hăng hái, công nhân chăm chỉ, người buôn bán săm sắn, người quản lý tận tình. Vấn đề là cơ chế mới làm động lực của mọi người thay đổi.

Đổi mới 40 năm nhưng thay đổi tổ chức thể chế mới được đặt ra dứt dạt trong vòng 20 tháng nay. Trở về cơ chế thị trường cần có thể chế thị trường. Trong đó, các tổ chức cộng đồng của người sản xuất, kinh doanh, lao động đóng vai trò rất quan trọng.

Đó là “cánh tay nối dài” của nhà nước không phải chỉ trong triển khai chính sách và phản hồi ý kiến như trước kia mà là đưa “trăm tay nghìn mắt”, đưa trí tuệ mẫn tiệp, đưa nội lực vô tận của nhân dân vào tham gia cùng nhà nước quản lý và hỗ trợ một nền kinh tế đang từng ngày, từng giờ lớn lên như sức mạnh Phù Đổng về quy mô và đa dạng về hình thái.

Chỉ có phối hợp sức mạnh công – tư thì lực lượng khổng lồ của thị trường mới được phát huy và quản lý nổi một cách hiệu quả.

Về tổ chức cụ thể trong nông nghiệp, cần từng bước xây dựng đội ngũ nông dân chuyên nghiệp. Vấn đề không phải là ở chỗ đào tạo và cấp bằng công nhận mà trước hết cần có hệ thống chính sách khuyến khích để chỉ đối tượng nông dân giỏi mới được kết nạp vào Hội nông dân, vào hợp tác xã và nhờ đó tiếp cận vay vốn ưu đãi, được hỗ trợ tích tụ đất đai, được chuyển giao KHCN, được ưu tiên số hóa định danh sản xuất, hỗ trợ thu mua chế biến nông sản…

Một chính sách như vậy sẽ thu hút lớp trẻ, có trình độ ở lại, trở về với nông nghiệp. Đồng thời cũng phải áp dụng những chính sách cần thiết để rút những lao động khác ra khỏi nông nghiệp và mở cho họ con đường sinh kế mới. Làm thế nào đất đai tích tụ lại gấp 5 – 10 lần hiện nay.

Lực lượng sản xuất tương lai là khoa học công nghệ. Cần tận dụng được đội ngũ cán bộ kỹ thuật hiện nay và thu hút lớp trẻ học hành và hướng nghiệp vào những ngành liên quan đến thế mạnh quốc gia về nông nghiệp. Các viện nghiên cứu và trường đại học chính phải gắn với nhau và đặt giữa các vùng chuyên canh sản xuất nông nghiệp chính.

Cần thay đổi cách bố trí các viện nghiên cứu lớn ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh về Đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên, Duyên Hải Trung Bộ và miền núi phía Bắc. Vấn đề là phải có các thành phố đáng sống ở đó (có trường học quốc tế, bệnh viện 5 sao, đô thị cao cấp,…), thu nhập của cán bộ khoa học phải gắn với hiệu quả đem lại từ thực tế sản xuất. Nghiên cứu đào tạo và chuyển giao phải phối hợp giữa nhà nước và các hiệp hội doanh nghiệp.

Đội ngũ cán bộ các cấp mới tổ chức lại cùng đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí quyết liệt. Họ sẽ được giảm tải công việc, có điều kiện nâng năng lực, có quy mô gọn để tăng lương, có địa bàn hợp lý để hoạt động, có tổ chức đơn giản để đầu tư nếu được tiếp tay, được giao việc cho một lực lượng đông đảo gấp 5 – 10 lần của các tổ chức cộng đồng trực tiếp sản xuất kinh doanh nêu trên. Lực lượng mới này có nguồn nội lực thuận lợi để hoạt động, có động lực thiết thân để đóng góp, có điều kiện tại chỗ để ăn ở.

Cái họ cần là được tổ chức lại, được công nhận, được phân cấp trao quyền, được đặt dưới sự quản lý của nhà nước. Đây là bước quan trọng để chuyển từ nhà nước quản lý thành nhà nước kiến tạo. Cơ chế xin cho sang phục vụ sẽ xử lý hiệu quả nguy cơ tham nhũng lãng phí và tạo động lực phát triển lớn.

Nếu thực hiện đồng bộ cuộc cách mạng toàn diện này, nông nghiệp sẽ phát huy lợi thế, nông thôn tiến cùng đất nước. Việt Nam sẽ trở thành “cánh đồng của thế giới, khu vườn của thế giới, nhà bếp của thế giới” và những con người nhỏ yếu, chia lẻ, thụ động hôm nay sẽ trở thành “trung tâm, là chủ thể, là động lực, nguồn lực của quá trình đổi mới” như tinh thần Kết luận của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết 19.

Đất nước sẽ vững bước tiến vào kỷ nguyên mới mà không có máy móc tự động hóa hay trí tuệ nhân tạo nào cạnh tranh được với con người Việt Nam trong nền kinh tế xanh tương lai.

Xin cảm ơn ông!

(thực hiện)

Nguồn:

[searchandfilter id="2529"]