Sự nhiễm độc tố aflatoxins là một trong những mối lo ngại lớn nhất mà các nhà chăn nuôi bò sữa trên khắp thế giới phải đối mặt. Nhưng, nguy cơ bị nhiễm có thể được giảm nhờ việc quản lý thức ăn chặt chẽ, đảm bảo chất lượng cao nhất, và áp dụng chất hấp phụ độc tố nấm mốc hiệu quả và có chọn lọc. Chọn đúng chất hấp phụ độc tố nấm mốc là điều quan trọng vì không phải tất cả các chất hấp phụ đều có tác dụng và chọn lọc.
Sự mang aflatoxin M1 vào sữa là mối lo ngại chính trong chăn nuôi bò sữa trên thế giới. Mặc dù dạ cỏ của bò sữa giải độc được một phần aflatoxin B1 trong khẩu phần, nhưng hãy còn nhiều được chuyển thành aflatoxin M1. Aflatoxin M1 là chất nhiễm chủ yếu trong sữa và gây đe dọa tương tự đối với sức khỏe con người do aflatoxin B1 sinh ra trong thực phẩm.
Việc quản lý rủi ro do aflatoxin nên bắt đầu bằng việc chọn lọc dựa trên nguồn gốc và lưu kho thức ăn mà bò sẽ ăn.
Nguồn gốc thức ăn
Nếu có sự cố nhiễm aflatoxins ở trại bò sữa, bước cơ bản là phát hiện nguồn nhiễm chính hoặc các nguồn độc tố. Aflatoxin có thể gây nhiễm nhiều loại thức ăn nhưng lo ngại đặc biệt là ở những loại cây trồng có nhiều dầu, có nguy cơ nhiễm cao như đậu phộng, hạt bông và đậu nành.
Ngũ cốc bao gồm bắp và lúa mì có thể bị ảnh hưởng, đặc biệt là nếu côn trùng gây hại hoặc stress do hạn hán gây tổn hại đến lõi. Những vùng có nguy cơ nhiễm aflatoxins cao hơn, đặc biệt là những vùng có thời tiết ấm, ẩm ướt, nhiệt đới hoặc cận nhiệt đới.
Thức ăn thành phẩm cần được kiểm tra sự hiện diện của aflatoxin B1 và từng loại nguyên liệu cần được kiểm tra về điều kiện và tình trạng phát triển nấm mốc rõ ràng. Có thể kiểm tra từng loại nguyên liệu thức ăn, phân tích một mẫu đại diện từ sự kết hợp nhiều mẫu phụ. Thường aflatoxins phân bố rất không đều trong một lô, nó hiện diện với mức cao ở những điểm cụ thể mà có thể bị bỏ sót khi lấy mẫu ngẫu nhiên.
Lời khuyên 1: Thường xuyên phân tích thức ăn để đảm bảo rằng các mẫu đại diện cho toàn bộ lô
Lưu kho thức ăn
Bởi vì các loài nấm mốc Aspergillus (như A. flavus) sinh ra aflatoxin B1, thường là loại nấm do lưu kho, vấn đề aflatoxin thường liên quan đến những điều kiện lưu kho dưới mức tối ưu. Nguyên liệu thức ăn càng không bị hư hại càng tốt, độ ẩm thấp và không có khu vực bị ẩm. Có thể dùng túi chống ẩm khi thức ăn tiếp xúc với nền bê tông hoặc khi đưa thức ăn ấm vào thùng kim loại, làm ngưng tụ hơi nước quanh các cạnh.
Cây làm thức ăn như cỏ khô hoặc cỏ ủ nên được lưu kho kỹ với việc quản lý thức ăn sạch để tránh mất mát nguyên liệu do tiếp xúc với không khí kéo dài. Thậm chí thức ăn ủ được bảo quản tốt cũng có thể bị nấm mốc Aspergillus tấn công sau vài ngày tiếp xúc với không khí. Sự tiếp xúc nhẹ với độ ẩm hoặc khí hậu ấm áp, ẩm ướt cũng đủ cho nấm mốc sinh aflatoxin xâm nhập cây thức ăn. Và mặc dù thức ăn ủ ẩm ướt và chặt là điều kiện quá kị khí đối với những loại nấm mốc này, nhưng khi tiếp xúc không khí sẽ cung cấp oxi cho sự phát triển và sản sinh aflatoxins.
Lời khuyên 2: Tránh cho ăn nguyên liệu mốc và kiểm tra máng ăn và khu vực cho ăn thường xuyên sạch.
Lựa chọn chất hấp phụ độc tố nấm mốc
Các chất hấp phụ độc tố nấm mốc là công cụ hiệu quả chống lại sự xâm nhiễm của độc tố aflatoxins. Chọn lọc chất hấp phụ đúng, là điều quan trọng vì không phải tất cả các chất hấp phụ đều hiệu quả hoặc có chọn lọc. Sự hiệu quả đòi hỏi hấp phụ nhanh và mạnh. Một chất hấp phụ hiệu quả là một chất được chứng minh là hấp phụ phần lớn aflatoxin B1 khi có nồng độ aflatoxin B1 cao và nồng độ chất hấp phụ tương đối thấp trong điều kiện pH bất lợi, ví dụ pH 5.0. Đây thật sự là điều kiện được sử dụng để đánh giá hiệu quả của một chất hấp phụ theo tiêu chuẩn EU.
Tính đặc hiệu là quan trọng vì một số chất hấp phụ sẽ làm giảm tính hữu dụng của vitamins, thuốc thú y và kháng sinh. Trong điều kiện áp lực aflatoxin cao, có thể cần tăng nồng độ chất hấp phụ trong thức ăn lên phù hợp với điểm đặc hiệu. Mycofix® Secure, một thành phần của dòng sản phẩm
Mycofix®, là sản phẩm duy nhất, đã thông qua quá trình đánh giá xuyên suốt của EU về tính hiệu quả, tính đặc hiệu và tính đảo ngược thấp, cũng như đã được đánh giá về tính an toàn (kim loại nặng và dioxins là mối lo ngại đối với một số chất hấp phụ).
Lời khuyên 3: Chọn chất hấp phụ độc tố nấm mốc vừa hiệu quả vừa có tính chọn lọc.
Các loại độc tố nấm mốc khác
Aflatoxins không phải là loại độc tố nấm mốc duy nhất có thể ảnh hưởng đến năng suất bò sữa hay chất lượng sữa. Deoxynivalenol, là một ví dụ, có thể ảnh hưởng đến sản lượng sữa do làm tổn thương đến hàng rào miễn dịch của đường ruột và tình trạng quần thể vi sinh vật trong dạ cỏ. Tiếp đến, quá trình lên men do vi sinh vật bị gây hại có thể làm giảm quá trình giải độc aflatoxins và, một hàng rào bị tổn thương có thể cho phép sự hấp thu aflatoxins ở mức độ lớn hơn.
Việc quản lý hiệu quả aflatoxins và các loại độc tố nấm mốc phổ biến khác do đó cần được mở rộng bằng sự hấp phụ aflatoxins hiệu quả và chọn lọc, và sự chuyển hóa sinh học các độc tố nấm mốc đã được chứng minh như deoxynivalenol – là độc tố không được hấp phụ chắc chắn.
Lời khuyên 4: Xem xét sự hiện diện của các loại độc tố nấm mốc khác trong thức ăn và thực hiện các chiến lược giảm thiểu độc tố cần thiết để đảm bảo năng suất vật nuôi không bị tổn hại.
Tiến sĩ Timothy Jenkins, Nhà khoa học Phát triển
Science & Solutions No.61 – BIOMIN
Nguồn: channuoivietnam.com
