Gỡ điểm nghẽn để phát triển ngành chăn nuôi bền vững

Ông Nguyễn Như So – ĐBQH, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Dabaco Việt Nam đã phân tích những điểm nghẽn và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả, năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững ngành chăn nuôi.

Ngành chăn nuôi Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức từ những bất cập trong quy hoạch, mất cân đối cung cầu, áp lực cạnh tranh của sản phẩm nhập khẩu đến yêu cầu kiểm soát dịch bệnh và bảo đảm an toàn sinh học.

ông so
Ông Nguyễn Như So – Đại biểu Quốc hội, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Dabaco Việt Nam – Ảnh: Dabaco

– Thưa ông, nhìn lại bức tranh ngành chăn nuôi hiện nay, nhiều doanh nghiệp cho rằng áp lực lớn nhất không chỉ nằm ở giá cả thị trường mà còn ở việc hoạch định quy hoạch và cân đối dòng tiền. Từ góc nhìn thực tiễn, ông đánh giá như thế nào về vấn đề này?

Một thực tế rõ ràng là hiện nay doanh nghiệp chưa phải đóng cửa vì tài sản hay đất đai, mà ngưng hoặc đình trệ sản xuất vì đứt gãy dòng tiền. Trong chăn nuôi, nếu việc quản lý và thực thi quy hoạch không nghiêm, chạy theo tư duy phong trào manh mún thì hậu quả để lại vô cùng lớn. Luật Chăn nuôi đã có những quy định rất cụ thể về tỷ lệ, mật độ vật nuôi tương ứng với diện tích cây trồng, đất đai, nhưng làm rất chậm. Đến nay số tỉnh, thành ban hành quy chuẩn vùng chăn nuôi bài bản còn rất hạn chế. Việc thiếu một quy hoạch thống nhất từ cấp Trung ương đến địa phương khiến sản xuất thừa – thiếu bấp bênh, khiến nguồn lực bị phân tán và người chăn nuôi luôn ở thế bị động.

– Trước sự gia tăng đầu tư vào lĩnh vực chăn nuôi, Việt Nam cần tham khảo kinh nghiệm quốc tế như thế nào trong quản lý quy mô đàn nuôi?

Thái Lan kiểm soát quy mô đàn nái ở mức khoảng 1,1 triệu con để duy trì sự cân bằng cung cầu nội địa và ổn định giá cả. Đây là một chiến lược quản lý ngành chăn nuôi rất chặt chẽ, tạo ra cơ chế điều tiết thị trường đặc thù đối với các nhà đầu tư quốc tế. Một số quốc gia như Hàn Quốc và các nước châu Âu cũng có cơ chế quản lý chặt chẽ đối với hoạt động chăn nuôi.

Tại Việt Nam, nhu cầu tiêu dùng được ước tính tương ứng với quy mô khoảng 2,2 triệu con heo nái. Vì vậy, cần có quy hoạch và cơ chế giám sát phù hợp đối với sự phát triển của ngành, bảo đảm cân đối giữa năng lực sản xuất và nhu cầu thị trường. Đồng thời, chính sách cần tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp FDI, bảo đảm hài hòa lợi ích của các chủ thể tham gia thị trường.

Ông Nguyễn Trí Công – Chủ tịch Hiệp hội Chăn nuôi TP Đồng Nai: tình trạng đáng báo động khi có tới 60% các nông hộ chăn nuôi, HTX và doanh nghiệp quy mô nhỏ đã rời khỏi thị trường trong vòng 10 năm qua.
Tại Việt Nam, nhu cầu tiêu dùng được ước tính tương ứng với quy mô khoảng 2,2 triệu con heo nái. – Ảnh: Hương Giang

– Trước sự gia tăng nguồn cung thịt đông lạnh và phụ phẩm chăn nuôi nhập khẩu, công tác kiểm dịch, kiểm soát dư lượng chất cấm và bảo đảm an toàn thực phẩm cần được thực hiện như thế nào để bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng và bảo đảm cạnh tranh công bằng trên thị trường?

Cần bảo đảm sự thống nhất, chặt chẽ trong các quy định về an toàn thực phẩm đối với cả sản phẩm trong nước và hàng nhập khẩu. Chẳng hạn, Ractopamine (chất tạo nạc) là chất bị cấm sử dụng trong thức ăn chăn nuôi tại Việt Nam, nhưng thịt nhập khẩu từ những quốc gia có sử dụng chất này vẫn có thể được phép lưu thông nếu đáp ứng ngưỡng dư lượng theo quy định. Đây là vấn đề cần được tiếp tục rà soát trên cơ sở khoa học và đánh giá rủi ro. Quan trọng là phải tăng cường kiểm dịch, kiểm soát dư lượng và minh bạch tiêu chuẩn đối với hàng nhập khẩu, vừa bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng, vừa bảo đảm môi trường cạnh tranh bình đẳng cho các chủ thể sản xuất, kinh doanh.

– Dịch tả heo châu Phi (ASF) đã gây ra những thiệt hại đáng kể cho ngành chăn nuôi. Ông từng đề cập đến sự cần thiết phải đổi mới tư duy trong công tác phòng, chống và kiểm soát dịch bệnh này. Theo ông, cần thay đổi cách tiếp cận như thế nào để vừa kiểm soát dịch bệnh hiệu quả, vừa hạn chế thiệt hại cho người chăn nuôi?

Chúng ta cần tiếp cận vấn đề trên cơ sở khoa học và thực tiễn để có giải pháp phù hợp. Dịch tả heo châu Phi (ASF) là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm đối với đàn heo nhưng không lây sang người. Vì vậy, việc phát hiện mẫu dương tính cần được đánh giá đầy đủ về tình trạng dịch tễ, phạm vi lây nhiễm và mức độ rủi ro để có biện pháp xử lý tương ứng, tránh áp dụng máy móc, gây thiệt hại không cần thiết cho người chăn nuôi.

Kinh nghiệm ứng phó với các dịch bệnh trước đây cho thấy, kiểm soát dịch tễ và thực hiện an toàn sinh học là những giải pháp quan trọng. Đối với ASF, cần tăng cường nghiên cứu, đánh giá khoa học với sự tham gia của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Y tế, các viện nghiên cứu và chuyên gia đầu ngành. Trên cơ sở đó, cần xây dựng quy trình phân loại, cách ly và xử lý phù hợp đối với từng trường hợp, đồng thời có hướng dẫn rõ ràng về điều kiện an toàn đối với sản phẩm chăn nuôi được phép lưu thông. Mục tiêu là vừa kiểm soát dịch bệnh, bảo vệ sức khỏe cộng đồng, vừa hạn chế thiệt hại và bảo đảm sinh kế cho người chăn nuôi.

– Để các giải pháp công nghệ và vaccine phòng dịch tả heo châu Phi (ASF) được ứng dụng hiệu quả trong thực tiễn, theo ông, cần hoàn thiện cơ chế quản lý và tăng cường phối hợp như thế nào?

Để kiểm soát hiệu quả dịch bệnh, công nghệ và vaccine có vai trò rất quan trọng trong bối cảnh hiện nay. Tuy nhiên, để các giải pháp khoa học công nghệ thực sự đi vào sản xuất, cơ chế quản lý cần linh hoạt, đồng bộ và dựa trên bằng chứng khoa học. Từ khâu khảo nghiệm, đánh giá, cấp phép lưu hành vaccine đến kiểm soát chất lượng cần bảo đảm quy trình chặt chẽ, minh bạch, đồng thời rút ngắn những thủ tục không cần thiết.

Bên cạnh đó, Nhà nước cần quản lý chặt chẽ nguồn giống gốc, bảo đảm chất lượng và khả năng truy xuất. Cần tăng cường phối hợp liên ngành giữa Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Công an cùng các cơ quan liên quan trong nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, giám sát dịch bệnh và xử lý các vi phạm. Công tác truyền thông cũng cần được chú trọng để cung cấp thông tin chính xác, thống nhất và hướng dẫn người chăn nuôi thực hiện đúng quy trình kỹ thuật.

Mục tiêu là sớm hình thành các vùng chăn nuôi an toàn dịch bệnh, tạo cơ sở để doanh nghiệp và người dân yên tâm đầu tư, tái đàn, từng bước khôi phục và phát triển sản xuất bền vững.

– Trân trọng cảm ơn ông!

Bài và Ảnh: Hương Giang

Nguồn: diendandoanhnghiep.vn

[searchandfilter id="2529"]