Năm 2025, tình hình thế giới diễn biến phức tạp, khó lường, khó dự đoán, đặc biệt là chính sách thuế đối ứng của Mỹ và phản ứng của các nước. Căng thẳng thuế quan giữa Mỹ và các nước, nguy cơ chiến tranh thương mại, bất ổn địa chính trị, nguy cơ về an ninh năng lượng, an ninh lương thực, tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế toàn cầu…. Trong nước, với bối cảnh nhu cầu tiêu dùng sữa tại Việt Nam ngày càng tăng cao, cùng với việc hàng loạt nhãn sữa giả bị cơ quan chức năng phát hiện vừa qua, ảnh hưởng đến việc kinh doanh của các doanh nghiệp chân chính, có thương hiệu, mặt khác thị trường sữa đang chứng kiến sự gia tăng mạnh mẽ của các thương hiệu sữa ngoại. Hiệp hội Sữa Việt Nam xin giới thiệu những thông tin cơ bản (trích từ nguồn Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại – Bộ Công Thương và Cục Thống kê) diễn biến thị trường sữa tháng 5 năm 2025 như sau:
1. Tình hình sản xuất và xuất nhập khẩu sữa tại Việt Nam
1.1. Tình hình sản xuất trong nước:
Theo Cục Thống kê, trong tháng 5/2025, sản lượng sữa tươi của cả nước ước đạt 145,1 triệu lít, tăng 1% so với cùng kỳ năm 2024. Tính chung 5 tháng đầu năm 2025, sản lượng sữa tươi ước đạt 676,6 triệu lít, tăng 1,7% so với cùng kỳ năm 2024.
Sản lượng sữa bột tháng 5/2025 ước tính đạt 13,7 nghìn tấn, tăng mạnh 21,5% so với cùng kỳ năm 2024. Tính chung 5 tháng đầu năm 2025, sản lượng sữa bột ước đạt 60,4 nghìn tấn, tăng 4,8% so với cùng kỳ năm 2024.
Bảng 1: Sản lượng sữa trong nước 5 tháng năm 2025
| Đơn vị tính | Thực hiện T4/2025 | Ước tính tháng 5/2025 | Cộng dồn 5T/2025 | T5/2025 so với T5/2024
(%) |
5T/2025 so với 5T/2024
(%)
|
|
| Sữa tươi | Triệu lít | 135,1 | 145,1 | 676,6 | 101,0 | 101,7 |
| Sữa bột | Nghìn tấn | 13,2 | 13,7 | 60,4 | 121,5 | 104,8 |
Nguồn: Cục Thống kê
Biểu đồ 1: Sản lượng sữa tươi theo tháng năm 2025
ĐVT: Triệu lít
Nguồn: Cục Thống kê
Biểu đồ 2: Sản lượng sữa bột theo tháng năm 2025
ĐVT: Nghìn tấn
Nguồn: Cục Thống kê
1.2. Tình hình nhập khẩu sữa của Việt Nam
1.2.1. Tình hình nhập khẩu sữa và các sản phẩm sữa tháng 5/2025:
– Kim ngạch nhập khẩu
Theo số liệu của Cục Hải quan, trong 15 ngày đầu tháng 5/2025, kim ngạch nhập khẩu sữa và sản phẩm sữa đạt 64,6 triệu USD, tăng 12,7% so với cùng kỳ tháng 4/2025. Lũy kế từ đầu năm kim ngạch nhập khẩu mặt hàng này đạt 517,04 triệu USD, tăng 32,7% so với cùng kỳ năm 2024.
– Thị trường nhập khẩu
Trong 4 tháng đầu năm 2025, trong các quốc gia có lượng sữa nhập khẩu lớn từ Việt Nam, New Zealand tiếp tục dẫn đầu với tổng kim ngạch đạt 160,8 triệu USD, tăng vọt tới 84,2%.
Không chỉ có New Zealand, Australia và Ailen cũng lần lượt ghi nhận mức tăng trưởng mạnh mẽ: 21,4% và 35,5%. Các quốc gia châu Âu như Đức (tăng 115,8%), Pháp (tăng 38%), Hà Lan (tăng 59,7%) hay cả Thái Lan (tăng 7,1%) đều chứng kiến kim ngạch sữa xuất khẩu vào Việt Nam tăng đáng kể.
Ngược lại, Mỹ – từng là nguồn cung quan trọng – lại sụt giảm 44,8% chỉ còn 29,3 triệu USD. Từ mức thị phần 15% trong 4 tháng đầu năm 2024, Mỹ nay chỉ còn chiếm gần 7% tổng thị phần nhập khẩu sữa của Việt Nam.
Biểu đồ 3: Cơ cấu thị trường nhập khẩu sữa 4 tháng đầu năm 2025
Theo kim ngạch
Nguồn: VITIC tính toán theo số liệu của CHQ
– Cơ cấu chủng loại nhập khẩu
Trong 4 tháng đầu năm 2025, kim ngạch nhập khẩu một số mặt hàng sữa và sản phẩm từ sữa chính đều tăng so với cùng kỳ năm 2024.
Cụ thể, kim ngạch nhập khẩu mặt hàng sữa bột chiếm vị trí đứng đầu, đạt mức 128,3 triệu USD, tăng 31,2% so với cùng kỳ năm 2024 và chiếm 28% thị phần nhập khẩu. Kim ngạch nhập khẩu lớn nhất là từ thị trường Ailen.
Sữa bột gầy là mặt hàng đạt kim ngạch nhập khẩu cao thứ hai, đạt 102,1 triệu USD, tăng 20,3% so với cùng kỳ năm 2024. Trong đó, Việt Nam nhập khẩu sữa bột từ thị trường Australia đạt kim ngạch lớn nhất, chiếm 27% thị phần.
Kim ngạch nhập khẩu mặt hàng sữa bột nguyên kem đứng vị trí thứ ba đạt 56,4 triệu USD, tăng 77,5%.
Kim ngạch nhập khẩu một số sản phẩm sữa đạt mức tăng trưởng như chất béo khan của bơ tăng 385%; sữa tươi tiệt trùng tăng 48%; bơ tăng 20,1%; kem sữa tăng 56,5%; bột sữa gầy tăng 112%; sữa hữu cơ nguyên kem tăng 158%;…
Ngược lại, kim ngạch nhập khẩu một số mặt hàng khác sụt giảm như phô mai giảm 72,4%; sữa đặc có đường giảm 7,1%; bột váng sữa giảm 8,8%; sữa chua uống giảm 24,7%,…
Biểu đồ 4: Cơ cấu một số chủng loại sữa và sản phẩm từ sữa nhập khẩu theo kim ngạch 4 tháng đầu năm 2025
Nguồn: VITIC tính toán theo số liệu của CHQ
1.2.2. Tình hình xuất khẩu sữa và các sản phẩm sữa tháng 5/2025:
– Kim ngạch xuất khẩu
Theo số liệu của Cục Hải quan, trong tháng 4/2025, kim ngạch xuất khẩu sữa và sản phẩm từ sữa đạt 32,6 triệu USD, tăng 5,3% so với tháng 3 trước đó. Tính chung 4 tháng đầu năm 2025, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này đạt 118,6 triệu USD, tăng 12,7% so với cùng kỳ năm 2024.
3 doanh nghiệp xuất khẩu sữa đạt kim ngạch cao 4 tháng/2025: Công ty CP Sữa Việt Nam (Vinamilk) tỷ trọng chiếm 71,1%, Công ty TNHH Bel Việt Nam chiếm 6,5% và Công ty TNHH FrieslandCampina Việt Nam chiếm 4,2%.
– Thị trường xuất khẩu:
Về thị trường, trong 4 tháng đầu năm 2025, kim ngạch xuất khẩu sang thị trường lớn nhất là Irăc đạt 52,9 triệu USD, tăng 2,1% so với cùng kỳ năm 2024 và chiếm 44% thị phần xuất khẩu. Afganistan là thị trường đứng vị trí thứ hai đạt 16,4 triệu USD, tăng mạnh 48,7%.
Ngoài ra, kim ngạch xuất khẩu sữa sang một số thị trường đạt mức tăng trưởng mạnh như Singapore tăng 112%; Thái Lan tăng 94%.
Kim ngạch xuất khẩu sữa sang thị trường Trung Quốc cũng tăng mạnh 78,2% đạt 7,3 triệu USD.
– Cơ cấu sản phẩm xuất khẩu
Trong 4 tháng đầu năm 2025, kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng sữa chính tăng so với cùng kỳ năm 2024.
Trong đó, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng sữa bột đạt trị giá cao nhất là 70 triệu USD, tăng 38,1% so với cùng kỳ năm 2024. Thị trường xuất khẩu lớn nhất là Irac đạt 47,4 triệu USD, chiếm 67,8% tỷ trọng.
Mặt hàng đứng vị trí thứ hai là bột thực phẩm, đạt kim ngạch 10 triệu USD, tăng 12,8%.
2. Diễn biến giá sữa:
2.1. Diễn biến giá sữa thế giới:
– Chỉ số giá sữa trên sàn thương mại sữa toàn cầu
Trên sàn thương mại sữa toàn cầu (GDT), chỉ số giá sữa trung bình trong 2 phiên giao dịch tháng 5/2025 đạt 4.552 USD/tấn, tăng 5,4% so với tháng 4 trước đó.
So với cùng kỳ năm 2024, chỉ số giá sữa tăng 19,7%.
– Chỉ số giá sữa của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO)
Chỉ số giá sữa của FAO đạt trung bình 152,1 điểm trong tháng 4/2025, tăng trung bình 3,5 điểm (tương đương 2,4%) so với tháng 3 và cao hơn tới 28,4 điểm (tương đương 22,9%) so với tháng 4/2024.
– Diễn biến giá sữa tại một số thị trường xuất khẩu chính
Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA), tháng 5/2025, giá các sản phẩm sữa tăng tại châu Úc và Nam Mỹ nhưng giảm tại Tây Âu. Giá sữa tăng chủ yếu do nhu cầu nhập khẩu mạnh mẽ hơn trong khi nguồn cung thắt chặt, nhất là sản lượng giảm theo mùa tại châu Úc.
Giá một số loại nguyên liệu sữa cụ thể như sau:
+ Tại châu Úc: So với cùng kỳ tháng 4/2025, giá sữa bột nguyên kem 26% tăng 6,6% lên mức 4.250- 4.425 USD/tấn (FOB), giá bơ (82% chất béo) tăng 3,6% lên mức 7.750-7.925 USD/tấn. Riêng giá sữa bột gầy (1,25% bơ) giảm 0,8% xuống mức 2.875- 3.000 USD/tấn (FOB),
+ Tại Nam Mỹ: Giá sữa bột nguyên kem 26% tăng 1,1% lên mức 4.350-4.450 USD/tấn; giá sữa bột gầy ổn định ở mức 3.200-3.300 USD/tấn.
+ Tại thị trường Tây Âu: So với mức giá cùng kỳ tháng 4/2025, giá sữa bột nguyên kem 26% giảm 0,5% xuống mức 4.725– 5.050 USD/tấn. Giá sữa bột gầy ổn định ở mức 2.700- 2.800 USD/tấn. Giá bơ (82% chất béo) giảm 6,7% xuống mức 7.850- 8.400 USD/tấn.
So với mức giá cùng kỳ năm 2024, giá các mặt hàng sữa đều tăng. Trong đó, giá sữa bột nguyên kem tăng lần lượt 21,7%; 28,2% và 11,2% tại Tây Âu, châu Úc, Nam Mỹ. Tương tự, giá sữa bột gầy cũng tăng 1,8%; 10,1% tại Tây Âu, châu Úc. Giá bơ tăng mạnh 19,1% và 12,8% tại Tây Âu và châu Úc.
2.2. Diễn biến giá sữa tại Việt Nam
Trong tháng 5/2025, giá sữa bán lẻ trong nước ổn định.
3. Tình hình tiêu thụ sữa trong nước
Trong tháng 5/2025, tiêu thụ sữa tươi của cả nước ước đạt 136.870 nghìn lít về khối lượng và đạt 3.751 3.603 tỷ đồng về trị giá, tương ứng mức tăng 3,4% về khối lượng và tăng 4,1% về trị giá so với tháng 4 trước đó. Tính chung 5 tháng đầu năm 2025, tiêu thụ sữa tươi đạt 681.522 nghìn lít và đạt 18.988 tỷ đồng.
Tiêu thụ sữa bột ước đạt 28.480 tấn và đạt 1.762 tỷ đồng về trị giá, tương ứng tăng mạnh về cả lượng và trị giá lần lượt là 38,6% và 114% so với tháng 4/2025. Tính chung 5 tháng đầu năm 2025, tiêu thụ sữa bột cả nước đạt 102.647 tấn và đạt 4.875 tỷ đồng.
4. Dự báo
4.1. Dự báo thị trường sữa thế giới
Theo dự báo của WB tháng 4/2025, giá cả các mặt hàng nông nghiệp (trong đó có giá sữa) được kỳ vọng sẽ giảm 1,0% trong năm 2025 và 3,0% trong năm 2026.
Trong 2 năm tới đây, xu hướng hạ nhiệt giá cả sẽ gây áp lực giảm lạm phát trên phạm vi toàn cầu, rủi ro đối với giá cả hàng hóa cũng được kỳ vọng sẽ giảm dần. Nếu kinh tế toàn cầu giảm sâu hơn kỳ vọng – do các rào cản thương mại có thể gây tác động trầm trọng hơn đến các mối quan hệ thương mại hoặc kéo dài tình trạng thắt chặt tài chính – có thể nhấn chìm nhu cầu về hàng hóa, nhất là các mặt hàng công nghiệp. Hơn nữa, nếu OPEC+ dỡ bỏ hoàn toàn thỏa thuận cắt giảm sản lượng tự nguyện, sản lượng dầu sẽ vượt xa nhu cầu tiêu thụ.
Tuy nhiên, không loại trừ khả năng mặt bằng giá cả sẽ tăng cao. Nếu các rào cản thương mại hạ nhiệt trở lại về trạng thái ban đầu, tình hình kinh tế sẽ cải thiện, nhu cầu về hàng hóa và giá cả sẽ tăng cao. Ngoài ra, giá cả cũng sẽ tăng cao, nếu căng thẳng địa chính trị leo thang, hoạt động cung ứng dầu khí sẽ bị đe dọa, hay các hiện tượng thời tiết cực đoan có thể đẩy giá nông nghiệp và năng lượng tăng vọt.
4.2. Dự báo thị trường sữa Việt Nam
Theo dữ liệu từ Euromonitor, năm 2024, giá trị tiêu dùng của ngành sữa Việt Nam sụt giảm khoảng 0,3%. Con số này đã cải thiện đáng kể so với mức giảm 1% của năm 2023 và cũng là tín hiệu cho thấy ngành sữa đã đi qua đáy.
Dự báo, nhu cầu tiêu thụ sữa và các sản phẩm từ sữa sẽ tăng trưởng kép ở mức 4,1% trong giai đoạn 2024 – 2028, cao hơn so với mặt bằng chung của thế giới.
Mặc dù vậy, các doanh nghiệp trong ngành được dự báo sẽ tăng trưởng theo “mô hình chữ K” thay vì “chữ V”. Điều đó có nghĩa không phải tất cả các doanh nghiệp trong ngành sữa sẽ được hưởng lợi từ sự tăng trưởng chung, mà sẽ có sự phân hóa sâu sắc. Chỉ những doanh nghiệp đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng mới có thể tồn tại và phát triển.
Trên thực tế, thị trường sữa Việt Nam đang chứng kiến sự cạnh tranh khốc liệt giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước. Nhập khẩu dự kiến tiếp tục duy trì ở mức cao để bù đắp thiếu hụt nội địa, nhất là ở các phân khúc sữa bột và sữa cao cấp.
Về xu hướng tiêu dùng và đổi mới sản phẩm: Người tiêu dùng trẻ và thu nhập cao có xu hướng ưu tiên sữa hữu cơ, ít đường, không lactose, các hương vị như trà xanh, cà phê Sản phẩm tiện lợi như sữa uống liền (RTD), sữa chua uống, sữa trái cây mix đang được ưa chuộng. Bối cảnh hàng loạt nhãn sữa giả bị cơ quan chức năng phát hiện, xu hướng người tiêu dùng quan tâm đến các nhãn hàng có thương hiệu, uy tín. Xu hướng xanh được người tiêu dùng chú trọng đến sản phẩm bền vững, thân thiện môi trường – ngày càng phát triển; nhiều doanh nghiệp nội như Vinamilk, FrieslandCampina… đang đẩy mạnh CSR và chuyển đổi xanh.
Vì vậy, để cạnh tranh, các doanh nghiệp đều triển khai những chiến lược kinh doanh riêng như đầu tư vào nghiên cứu, phát triển sản phẩm mới, mở rộng mạng lưới phân phối hay phát triển sang thị trường nước ngoài.
Tóm lại, trong 6 tháng cuối năm 2025, thị trường sữa Việt Nam tiếp tục đà mở rộng mạnh, mang lại cơ hội hấp dẫn cho cả nhà sản xuất nội địa và nhập khẩu. Tuy nhiên, giá cả và nguồn nguyên liệu nhập khẩu vẫn là thách thức chính. Sự đổi mới sản phẩm theo xu hướng xanh – lành mạnh – tiện lợi sẽ là chìa khóa giúp doanh nghiệp nổi bật và chiếm lĩnh thị phần..
VDA




